Đặt vấn đề nghiên cứu Trong xu thế phát triển chung của thế giới đƣơng đại, tăng trƣởng kinh tế luôn song hành với tăng nhu cầu sử dụng năng lƣợng và phát triển các nguồn năng lƣợng mới. Tuy nhiên, việc sử dụng năng lƣợng đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề đối với môi trƣờng. Nền kinh tế hiện đại và công nghiệp hóa đã tạo nên những ống khói khổng lồ phát thải khí vào bầu khí quyển, làm gia tăng hiệu ứng nhà kính, Trái Đất ngày một nóng lên. Biến đổi khí hậu toàn cầu trở thành vấn đề nóng đƣợc thảo luận trong các cuộc hội đàm giữa các quốc gia trên thế giới.
Một trong những nguyên nhân gây nên hiệu ứng nhà kính đƣợc quan tâm nhiều nhất là sự gia tăng phát thải khí CO2. Do đó, lƣợng khí thải CO2, cùng với mức độ sử dụng năng lƣợng đƣợc coi là những đặc trƣng cho sự tăng trƣởng kinh tế. Ngoài ra, sự gia tăng mức độ và bề rộng của thị trƣờng tài chính cũng góp phần đóng góp cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Mối quan hệ của các yếu tố trên đã trở thành vấn đề nhận đƣợc nhiều sự quan tâm nhằm hƣớng đến mục tiêu tăng trƣởng kinh tế bền vững của nhiều quốc gia và khu vực.Rất nhiều nghiên cứu đã đƣợc thực hiện trƣớc đây nhƣ nghiên cứu của Acaravci và Ozturk (2010), Wang và cộng sự (2011), Pao và Tsai (2011), Al-mulali và Sab (2012), Farhani và cộng sự (2014), … thực hiện ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, cũng nhƣ các tổ chức hợp tác quốc tế để kiểm tra các mối quan hệ xoay quanh những yếu tố trên.
Các nghiên cứu mở rộng gần đây cũng đã đƣợc thực hiện với sự phát triển thêm về các biến mới ngoài biến tăng trƣởng kinh tế, tiêu thụ năng lƣợng, lƣợng khí thải CO2 nhƣ thƣơng mại, độ mở kinh tế, dân số, năng lƣợng tái tạo… Tang và cộng sự (2014) đã tổng hợp nhiều nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa tăng trƣởng kinh tế, tiêu thụ năng lƣợng, lƣợng khí thải CO2, dân số, vốn, lao động và các biến khác, đặc biệt là cho các nƣớc thuộc ASEAN. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chƣa có nghiên cứu nào đánh giá về mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế, tiêu thụ năng lƣợng, lƣợng khí thải CO2 và sự phát triển tài chính cho các nƣớc thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng. 3 Do đó, tác giả chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế, tiêu thụ điện, lƣợng khí thải CO2 và phát triển tài chính ở các quốc gia khu vực châu Á -Thái Bình Dƣơng.” Bài nghiên cứu thực hiện kiểm tra mối quan hệ trên nhằm nỗ lực lấp đầy khe hổng này và quan trọng hơn là cung cấp một số thảo luận về các lựa chọn chính sách để đạt đƣợc sự bền vững trong hệ thống năng lƣợng trong khu vực. Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên bài nghiên cứu: “Is the long-run relationship between economic growth, electricity consumption, carbon dioxide emissions and financial development in Gulf Cooperation Council Countries robust?” của Salahuddin, Gow và Ozturk (2015).
Mục tiêu nghiên cứu Bài nghiên cứu này điều tra các mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa tăng trƣởng kinh tế, tiêu thụ năng lƣợng, lƣợng khí thải CO2 và phát triển tài chính trong khu vực và cũng xác định quan hệ nhân quả giữa các biến nhằm trả lời các câu hỏi sau: - Có hay không mối quan hệ nhân quả giữa tăng trƣởng kinh tế, tiêu thụ năng lƣợng, lƣợng khí thải CO2 và phát triển tài chính trong khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng? - Dựa trên kết quả nghiên cứu, có các gợi ý gì cho các nhà hoạch định chính sách trong mục tiêu phát triển bền vững? 1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: 14 quốc gia thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng bao gồm Brunei, Cambodia, Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ, Australia và New Zealand. - Phạm vi nghiên cứu: giai đoạn từ 1991-2014 4 1. Phƣơng pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng các phƣơng pháp phân tích định lƣợng nhƣ: phƣơng pháp DOLS (dynamic ordinary least squares), FMOLS (fully modified ordinary least squares) để ƣớc lƣợng mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn của các biến.
Ngoài ra, kiểm định tính dừng dữ liệu bảng, kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng, kiểm định quan hệ nhân quả Granger cho dữ liệu bảng và phân tích mô hình VECM dựa trên kết quả của phân rã phƣơng sai và hàm phản ứng đẩy đƣợc sử dụng để xác định hƣớng quan hệ nhân quả giữa các biến. Phần mềm sử dụng: Stata 13 và Eview 8 Dữ liệu đƣợc lấy từ website Ngân hàng thế giới Worldbank (http://data. Ý nghĩa của đề tài - Tổng hợp các lý thuyết liên quan đến tăng trƣởng kinh tế, tiêu thụ năng lƣợng, lƣợng khí thải CO2 và phát triển tài chính cũng nhƣ tổng hợp các nghiên cứu đã đƣợc thực hiện trƣớc đây nhằm hệ thống lại các mối quan hệ đã đƣợc kiểm tra. - Cung cấp bằng chứng thực nghiệm, mở rộng hƣớng nghiên cứu so với các nghiên cứu trƣớc đây nhằm tạo thêm cơ sở cho các nghiên cứu sau này.
- Dựa trên kết quả nghiên cứu đƣợc, bài nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách trong khu vực để có thể đƣa ra các định hƣớng chính sách hợp lý, cũng nhƣ xem xét tính khả thi của các giải pháp mà bài nghiên cứu đƣa ra. Bố cục bài nghiên cứu Chƣơng 1. Trong chƣơng này tác giả trình bày những nội dung cơ bản của bài nghiên cứu cũng nhƣ lý do dẫn tác giả tiến hành thực hiện nghiên cứu này. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc đây.
Trong chƣơng này tác giả trình bày những lý thuyết nền tảng và tổng quan các nghiên cứu 5 trƣớc đây về các mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế, tiêu thụ năng lƣợng, lƣợng khí thải CO2 và phát triển tài chính. Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng này tác giả trình bày những lý thuyết kinh tế lƣợng cơ bản, mô tả biến và mô hình đƣợc sử dụng trong bài nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu.
Trong chƣơng này tác giả trình bày và giải thích các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đạt đƣợc. Kết luận và gợi ý chính sách. Chƣơng này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt đƣợc và rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hƣớng nghiên cứu tiếp theo. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.
Tổng quan lý thuyết 2. Tăng trƣởng kinh tế Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (Worldbank) trong “Báo cáo về phát triển thế giới năm 1991”: Tăng trƣởng kinh tế chỉ là sự gia tăng về lƣợng của những đại lƣợng chính đặc trƣng cho môt trạng thái kinh tế, trƣớc hết là tổng sản phẩm xã hội, có tính đến mối liên quan với dân số. Tăng trƣởng kinh tế phản ánh quy mô tăng lên của nền kinh tế ở năm này so với những năm trƣớc đó. Tăng trƣởng kinh tế thể hiện thông qua quy mô tăng trƣởng và tốc độ tăng trƣởng.
Tăng trƣởng kinh tế không đồng nghĩa với phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trƣởng kinh tế. Nó bao gồm tăng trƣởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (nhƣ phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ). Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trƣờng, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn.
Nhƣng tăng trƣởng kinh tế là trọng tâm của quá trình phát triển, và phát triển bền vững cũng nhƣ xoá nghèo không thể diễn ra nếu không có tăng trƣởng kinh tế. Lƣợng phát thải CO2 Lƣợng phát thải CO2 đƣợc làm rõ thông qua khái niệm Carbon footprind (Trích từ Trƣơng Thị Minh An và Kiều Thị Hòa (2010)). Carbon footprind là một đại lƣợng chỉ tổng lƣợng khí thải nhà kính phát thải trực tiếp và gián tiếp từ một tổ chức, cá nhân, sự kiện hay một sản phẩm đƣợc quy về lƣợng CO2. Trực tiếp: Lƣợng CO2 phát thải trực tiếp từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch bao gồm cả việc tiêu thụ năng lƣợng trong gia đình và vận chuyển.
Gián tiếp: Lƣợng CO2 phát thải gián tiếp từ toàn bộ vòng đời sản phẩm. Phát triển tài chính Thị trƣờng tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các khoản vốn (ngắn hoặc dài hạn) thông qua các công cụ tài chính nhất định. Các công cụ tài chính nói trên đƣợc gọi là các chứng khoán (nghĩa là các quyền đƣợc hƣởng đối với thu nhập hoặc tài sản tƣơng lai của nhà phát hành). Các công cụ này bao gồm hai loại cơ bản là chứng khoán nợ và chứng khoán vốn, ngoài ra còn có chứng khoán phái sinh.
Trong tài chính, thị trƣờng tài chính tạo điều kiện: - Việc nâng vốn (trong các thị trƣờng vốn) - Việc chuyển giao rủi ro (trong các thị trƣờng phái sinh) - Phát hiện giá - Các nghiệp vụ toàn cầu với hội nhập của các thị trƣờng tài chính - Việc chuyển giao tính thanh khoản (trong các thị trƣờng tiền tệ) - Thƣơng mại quốc tế (trong các thị trƣờng tiền tệ) và đƣợc sử dụng để thỏa mãn nhu cầu giữa những ngƣời muốn có vốn với những ngƣời có vốn. Thị trƣờng tài chính thu hút, huy động các nguồn tài chính trong và ngoài nƣớc, khuyến khích tiết kiệm và đầu tƣ, góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính, thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhà nƣớc. Trong nghiên cứu của King và Levine (1993) phát triển tài chính đƣợc thể hiện qua bốn thƣớc đo: - LLY: tỉ lệ giữa nợ thanh khoản với GDP. Nợ thanh khoản (Liquid liabilities) là thƣớc đo khái quát của cung tiền (M3) bao gồm, tiền mặt, tài khoản ngân hàng và tài khoản ở các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
Khi số liệu M3 không có sẵn thì tác giả sử dụng thƣớc đo M2 hẹp hơn trong đó không tính đến tài khoản tiền gởi ngoại tệ có kỳ hạn, cổ phần trong các quỹ đầu tƣ và thƣơng phiếu (nợ doanh nghiệp ngắn hạn). 8 - NGÂN HÀNG: tỉ lệ tài sản ngân hàng với tài sản ngân hàng + tài sản ngân hàng trung ƣơng. Mục đích để đo lƣờng tầm quan trọng tƣơng đối của ngân hàng so với cơ quan tiền tệ.