Luận án tiến sĩ mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở việt nam hiện nay

Luận án tiến sĩ phân tích mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước tại Việt Nam hiện nay.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

164
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN TƯ PHÁP VÀ QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước

1.2. Nội dung mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam

1.3. Các điều kiện bảo đảm mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước

1.4. Kết luận

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN TƯ PHÁP VÀ QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam

2.2. Thực tiễn mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

2.3. Kết luận

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN TƯ PHÁP VÀ QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Quan điểm bảo đảm mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

3.2. Giải pháp bảo đảm mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

3.3. Kết luận

4. CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp

Quyền tư phápquyền hành pháp là hai nhánh quyền lực quan trọng trong cơ cấu quyền lực nhà nướcViệt Nam. Quyền tư pháp liên quan đến hoạt động xét xử, bảo đảm công lý, trong khi quyền hành pháp tập trung vào việc thực thi pháp luật và điều hành chính sách. Mối quan hệ giữa hai quyền này được xác định bởi sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau, nhằm đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Hiến pháp 2013 đã cụ thể hóa nguyên tắc này, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.

1.1. Khái niệm quyền tư pháp và quyền hành pháp

Quyền tư pháp được hiểu là quyền xét xử, bảo đảm công lý và thực thi pháp luật thông qua hệ thống tòa án. Quyền hành pháp là quyền thực thi pháp luật, điều hành chính sách và quản lý nhà nước thông qua Chính phủ. Hai quyền này có mối quan hệ chặt chẽ, vừa độc lập vừa tương tác, nhằm đảm bảo sự cân bằng trong quyền lực nhà nước.

1.2. Đặc điểm mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp

Mối quan hệ giữa quyền tư phápquyền hành pháp được đặc trưng bởi sự phân công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ. Tuy nhiên, hai quyền này cũng cần phối hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Sự kiểm soát lẫn nhau giữa hai quyền là yếu tố quan trọng để ngăn chặn tình trạng lạm quyền, bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong hoạt động nhà nước.

II. Thực trạng mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp ở Việt Nam

Thực tiễn mối quan hệ quyền lực giữa quyền tư phápquyền hành phápViệt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Sự phân công chưa thực sự hợp lý, dẫn đến tình trạng chồng chéo trong chức năng và nhiệm vụ. Việc phối hợp giữa hai quyền cũng chưa đạt hiệu quả cao, đặc biệt là trong việc bảo đảm tính độc lập của tư pháp. Cơ chế kiểm soát quyền lực giữa hai nhánh quyền này còn yếu, dẫn đến nguy cơ lạm quyền và thiếu minh bạch trong hoạt động nhà nước.

2.1. Thực trạng pháp luật về mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về mối quan hệ quyền lực giữa quyền tư phápquyền hành pháp. Tuy nhiên, các quy định này còn thiếu tính đồng bộ và chưa đủ mạnh để đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa hai quyền. Điều này dẫn đến tình trạng chồng chéo trong chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước.

2.2. Thực tiễn mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp

Trong thực tiễn, mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành phápViệt Nam còn nhiều bất cập. Sự phối hợp giữa hai quyền chưa đạt hiệu quả cao, đặc biệt là trong việc bảo đảm tính độc lập của tư pháp. Cơ chế kiểm soát quyền lực giữa hai nhánh quyền này còn yếu, dẫn đến nguy cơ lạm quyền và thiếu minh bạch trong hoạt động nhà nước.

III. Giải pháp bảo đảm mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp

Để bảo đảm mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nướcViệt Nam, cần có những giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật để quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của hai quyền này. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực giữa hai nhánh quyền, đảm bảo tính độc lập và minh bạch trong hoạt động nhà nước. Ngoài ra, cần nâng cao nhận thức và năng lực của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng của mình.

3.1. Hoàn thiện pháp luật về mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp

Cần hoàn thiện pháp luật Việt Nam để quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của quyền tư phápquyền hành pháp. Điều này sẽ giúp tránh tình trạng chồng chéo trong chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, đồng thời đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa hai quyền.

3.2. Tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực

Việc tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực giữa quyền tư phápquyền hành pháp là yếu tố quan trọng để ngăn chặn tình trạng lạm quyền và bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động nhà nước. Cần xây dựng các cơ chế kiểm soát hiệu quả, đảm bảo sự độc lập và công bằng trong hoạt động của hai quyền này.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 đề cập đến quyền tư pháp, các nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền tư pháp, thủ tục tư pháp và dành hẳn một mục để bàn về vị trí vai trò trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp cũng như hiệu quả xét xử của Tòa án. Chương 2, tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ Đại hội VI đến Đại hội IX). Chương 3, tác giả phân tích, bình luận xoay quanh các vấn đề về cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Trong đó, tác giả tập trung phân tích các tiền đề và thách thức đối với công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam cũng như các yêu cầu cơ bản và những nội dung của cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Tất cả các vấn đề trên được đề cập và giải quyết tương đối toàn diện. Đây sẽ là nguồn tư liệu quý giá để tác giả có thêm định hướng và cơ sở trong quá trình thực hiện nội dung của luận án liên quan đến nhánh quyền tư pháp. Đề tài cấp Bộ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền tư pháp của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011- 2020” do PGS.TS Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm, Viện Nhà nước và Pháp luật là cơ quan chủ trì (2010) [56]. Công trình khoa học đã nghiên cứu một cách tập trung và toàn diện nhất về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Đề tài nghiên cứu đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quyền tư pháp như: quan niệm về quyền tư pháp trong khoa học pháp lý, tính phổ biến của quyền tư pháp, những đặc thù của quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cũng như chức năng, nhiệm vụ chủ thể và các phương thức, phương pháp thực hiện quyền tư pháp. Đề tài đã nhận diện và phân biệt được các vấn đề về hệ thống tư pháp, cơ quan tư pháp và hoạt động 14 tư pháp. Bên cạnh đó, tác giả của đề tài tập trung phân tích thực trạng tổ chức thực hiện quyền tư pháp, phân tích một số mô hình tổ chức thực hiện quyền tư pháp trên thế giới như ở các nước thuộc nhóm Civil Law, nhóm Common Law, một số nước trong khu vực Châu Á và Trung Đông. Trên cơ sở đó, rút ra các bài học kinh nghiệm cho mô hình tổ chức và thực hiện quyền tư pháp ở nước ta, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quyền tư pháp giai đoạn 2011- 2020.

Đây chính là tiền đề rất tốt để luận án có thể tiếp thu trong quá trình nghiên cứu. Cuốn sách "Kiểm soát quyền lực nhà nước" do tác giả GS.TS Nguyễn Đăng Dung chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2017 [31]. Cuốn sách gồm hai phần. Phần 1 đề cập đến cơ sở lý luận của sự kiểm soát quyền lực nhà nước.

Trong đó, tác giả tập trung phân tích và lý giải ba vấn đề: tại sao phải kiểm soát quyền lực nhà nước; lý thuyết nhà nước pháp quyền và chủ nghĩa hiến pháp – sự thể hiện tập trung tư duy của nhân loại về kiểm soát quyền lực nhà nước; Hiến pháp – công cụ quan trọng nhất để kiểm soát quyền lực nhà nước. Phần hai: Nội dung, hình thức và công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước. Phần này tác giả đề cập đến rất nhiều vấn đề, trong đó chú trọng đến những vấn đề về: Quyền lực nhà nước được kiểm soát bằng việc phân chia/phân công , phân nhiệm và tự kiểm tra bên trong theo cơ chế kiềm chế và đối trọng (sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong); Chính phủ phải chịu trách nhiệm tiêu điểm của kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong; Phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài; Tòa án – cửa ải cuối cùng của sự kiểm soát quyền lực nhà nước. Cuốn sách là tài liệu cho tác giả tham khảo khi bàn về vấn đề kiểm soát quyền lực giữa hai nhánh quyền tư pháp và hành pháp.

Cuốn sách "Sự hạn chế quyền lực nhà nước" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, (2004) [29]. Đây là cuốn sách tiếp cận 15 từ phương diện khoa học Luật Hiến pháp, tập trung lý giải về sự cần thiết phải giới hạn quyền lực nhà nước và nội dung của việc hạn chế quyền lực nhà nước. Trong đó cuốn sách giành 1 chương đề cập đến Tòa án - một phần nhà nước được đứng tách riêng ra một cách độc lập xét xử đúng sai của chính các cơ quan các cá nhân đảm trách các công việc của nhà nước - cửa ải cuối cùng của sự hạn chế nhà nước. Đặc biệt ngay tại chương này tác giả cũng nhấn mạnh đến sự vô tư, độc lập - bản tính cần có của tư pháp để hạn chế quyền lực nhà nước.

Cuốn sách giúp tác giả luận án có cái nhìn toàn diện hơn về sự độc lập của tư pháp so với lập pháp và hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước. Cuốn sách "Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Từ lý luận đến thực tiễn" của TS. Nguyễn Văn Quyền – PGS.TS Nguyễn Tất Viễn (Đồng chủ biên), Nxb Tư pháp, năm 2018 [67]. Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước: Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, mã số 03/2013/ĐTĐL do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) tài trợ.

Cuốn sách nghiên cứu toàn diện về quyền tư pháp từ nhận thức lý luận đến tổ chức thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới cũng như đề xuất được mô hình tổ chức thực hiện quyền tư pháp sau năm 2020. Về nhận thức lý luận, cuốn sách đã phân tích được các quan niệm về quyền tư pháp, đưa ra được những giá trị phổ biến, giá trị đặc thù và những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện quyền tư pháp như yếu tố lịch sử, văn hóa, yếu tố thể chế chính trị.Về tổ chức thực hiện quyền tư pháp, tác giả cuốn sách đã phân tích được việc tổ chức thực hiện quyền tư pháp ở nước ta từ năm 1945 đến nay qua các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp hiện hành năm 2013. Đồng thời có sự so sánh với các quốc gia trên thế giới theo 16 hệ thống thông luật, hệ thông luật dân sự, các quốc gia hồi giáo. Đặc biệt cuốn sách đã phân biệt và chỉ rõ được nội hàm các vấn đề: quyền tư pháp, các hoạt động tư pháp, các hoạt động mang tính tư pháp và bổ trợ tư pháp – vấn đề đang còn tranh luận trong giới nghiên cứu khoa học; cũng như đề xuất được mô hình tổ chức thực hiện quyền tư pháp sau năm 2020.

Đây sẽ là nguồn tài liệu vô cùng hữu ích giúp nghiên cứu sinh trong quá trình luận giải các vấn đề về quyền tư pháp, đặc biệt là các vấn đề lý luận hiện còn nhiều quan điểm khác nhau. Luận án tiến sĩ Luật học "Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam" của tác giả Trần Huy Liệu, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2003 [55]. Luận án nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, vị trí vai trò của cơ quan tư pháp trong bộ máy nhà nước. Phân tích quá trình hình thành, phát triển và thực trạng tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp Việt Nam.

Trên cơ sở đó, tác giả luận án kiến nghị những nội dung cơ bản về đổi mới tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Ngoài ra còn có các luận án tiến sĩ luật học tập trung nghiên cứu về vấn đề độc lập xét xử của Tòa án ở Việt Nam hiện nay, cụ thể: Luận án tiến sĩ luật học của Tô Văn Hòa "Tính độc lập của tòa án - nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị với Việt Nam" [45]; Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Hải Ninh "Các yếu tố bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay" [63]. Bên cạnh đó, bài viết của các tác giả bàn luận xoay quanh các vấn đề về quyền tư pháp chiếm số lượng không nhỏ, tiêu biểu là: GS. Võ Khánh Vinh với bài viết Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN của 17 dân, do dân và vì dân ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8/2003 [86]; PGS.TS Trương Hòa Bình Độc lập tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm cho tòa án thực hiện đúng đắn quyền tư pháp, Tạp chí TAND, TAND tối cao, Số 16/2014 [23]; TS.

Nguyễn Văn Cương (2013), Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN một số vấn đề đặt ra trong tình hình mới, Tạp chí Nghề Luật, Học viện Tư pháp, Số 1/2013 [27]; PGS.TS Nguyễn Đức Minh, Khái quát về quyền tư pháp ở một số nước trên thế giới, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2011 [57]; PGS.TS Nguyễn Đức Minh (2011), Nhận thức về quyền tư pháp ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 6/2011 [58]; GS.TSKH Đào Trí Úc (2010), Bàn về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 8/2010 [84]; … Các bài viết trên đề cập đến quyền tư pháp trên nhiều khía cạnh khác nhau. Có những bài viết bàn về tính độc lập của tư pháp. Có bài viết tập trung nghiên cứu quyền tư pháp ở một số nước trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Đặc biệt, có rất nhiều bài viết tập trung luận bàn về vấn đề cải cách tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.

Các bài viết này giúp tác giả luận án có cái nhìn sâu sắc hơn về quyền tư pháp, từ đó luận giải được mối quan hệ giữa quyền tư pháp với các nhánh quyền còn lại trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Mối Quan Hệ Giữa Quyền Tư Pháp Và Hành Pháp Trong Thực Hiện Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu phân tích sự tương tác và phối hợp giữa hai nhánh quyền lực quan trọng trong bộ máy nhà nước. Tài liệu làm rõ cách quyền tư pháp và hành pháp hỗ trợ, kiểm soát lẫn nhau để đảm bảo sự cân bằng quyền lực, đồng thời nêu bật những thách thức và cơ hội trong việc thực thi quyền lực nhà nước tại Việt Nam. Độc giả sẽ hiểu sâu hơn về cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền, từ đó có cái nhìn toàn diện về sự phát triển của hệ thống pháp luật và quản trị quốc gia.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, tài liệu này đi sâu vào vai trò của viện kiểm sát trong quá trình truy tố, một khía cạnh quan trọng của quyền tư pháp. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ pháp luật về tổ chức hội đồng nhân dân cung cấp cái nhìn chi tiết về cơ chế dân chủ và quản lý nhà nước ở cấp địa phương. Cuối cùng, Luận văn tổng quan về giám sát cơ quan dân cử bởi nhân dân giúp hiểu rõ hơn về vai trò của người dân trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn đa chiều về hệ thống quyền lực nhà nước tại Việt Nam. Hãy khám phá để nắm bắt những góc nhìn sâu sắc hơn!