Chương 1 trình bày cơ sở lý luận của nợ công, làm rõ khái niệm, phân loại nợ công, bản chất kinh tế của nợ công và các rủi ro do nợ công mang lại. Chương 2 mô tả tổng quan lý thuyết về nợ công, ghi nhận các kết quả đáng chú ý của các công trình nghiên cứu trước đó về nợ công theo nhiều khuynh hướng khác nhau. ột vài nghiên cứu cho rằng nợ công có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, một số khác thì khẳng định theo hướng ngược lại, tức là nợ công có thể gây nguy hiểm và kiềm hãm sự phát triển kinh tế, và những nghiên cứu còn lại thì không phát hiện ra ảnh hưởng của nợ công lên tăng trưởng kinh tế. Chương 3 trình bày phương pháp luận và mô hình nghiên cứu cho mối quan hệ giữa tăng trưởng và nợ công đặc trưng bằng hai tỷ số: thâm hụt ngân sách công hiện hành/GD và nợ chính phủ/GD.
Chương 4 mô tả dữ liệu nghiên cứu và kết quả thực nghiệm trong đó chỉ rõ cách thức lấy số liệu, x lý số liệu, kết quả đạt được thông qua phân tích hồi qui và bàn luận. hần tổng kết xác định lại những phát hiện của đề tài nghiên cứu và các khuyến nghị được đưa ra cho các chính sách liên quan đến nợ công trong tương lai. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ CÔNG 1. Khá n ệm và phân loạ nợ côn 1.
Định n hĩa nợ côn theo pháp luật V ệt Nam và theo thôn lệ quốc tế Để có được một cái nhìn tổng thể về bức tranh nợ công của Việt am, cần phải có được một khung lý thuyết cơ bản và đầy đủ về nợ công cũng như các khái niệm liên quan. Tuy nhiên, bên cạnh những lý thuyết này, cũng cần đến những số liệu thực tế cũng như bằng chứng thực nghiệm về nợ công của Việt am cũng như của các quốc gia khác trên thế giới. hững số liệu và bằng chứng này sẽ được lấy từ rất nhiều nguồn khác nhau, chính vì thế, nội dung nghiên cứu sẽ xây dựng khung lý thuyết dựa trên việc tổng hợp những định nghĩa về nợ công và những khái niệm xung quanh nó của Việt am, của gân hàng Thế giới WB và của Quỹ Tiền tệ Quốc tế I F. ăm 2009, Quốc hội Việt am đã ban hành Luật quản lý nợ công, được xem là một bước tiến bộ lớn trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt am về vấn đề này.
Theo Bộ Luật này thì nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. ợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài được ký kết, phát hành nhân danh hà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. ợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ do gân hàng hà nước Việt am phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. ợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh.
6 ợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban hân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành. Theo WB 2002 thì nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh. Với định nghĩa như thế này, nếu như hiểu nợ của Chính phủ bao gồm nợ của Chính phủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương thì có thể thấy định nghĩa của WB giống với định nghĩa được đưa ra trong Luật quản lý nợ công của Việt am. Còn theo I F 2010 , thì nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công.
Đi kèm với đó là định nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khu vực Chính phủ và khu vực các tổ chức công Hình 1.1: Các thành phần của khu vực công theo định nghĩa của I F hu vực công hu vực hu vực các tổ Chính phủ chức công Chính phủ Các tổ chức công Các tổ chức công trung ương phi tài chính tài chính Chính quyền liên bang Ngân hàng Trung ương HTW Chính quyền địa phương Các tổ chức nhà nước nhận tiền g i trừ HTW Nguồn: IMF (2010) Các tổ chức tài chinh công khác 7 hánh bên trái, bao gồm nợ chính phủ tại các cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương. hánh bên phải, hay khu vực các tổ chức công bao gồm các tổ chức công tài chính và phi tài chính. Các tổ chức công phi tài chính được có thể là các tập đoàn nhà nước không hoạt động trong lĩnh vực tài chính như điện lực, viễn thông,… hoặc cũng có thể là các tổ chức như bệnh viện và các trường đại học công lập. Các tổ chức công tài chính là các tổ chức nhận hỗ trợ từ Chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, thực hiện các dịch vụ nhận tiền g i và trả lãi thuộc khu vực công, cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, bảo hiểm hay quỹ lương hưu.
Định nghĩa của I F đầy đủ và chi tiết hơn nhiều so với Luật quản lý nợ công của Việt am và của WB. Tuy nhiên khó có thể nói là có sự khác biệt lớn giữa các cách định nghĩa này, do có thể coi các khoản nợ của khu vực các tổ chức công là các khoản nợ mà chính phủ sẽ bảo lãnh trong trường hợp các tổ chức này vỡ nợ. Phân loạ nợ côn Trước khi phân loại nợ công, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa nợ công và nợ tư. ếu như nợ công là nợ do Chính phủ trực tiếp đi vay hoặc Chính phủ bảo lãnh cho các tổ chức khác đi vay, thì nợ tư thuần túy là nghĩa vụ nợ của các tổ chức tư nhân.
ợ công và nợ tư sẽ hợp thành tổng dư nợ của nền kinh tế. ghĩa vụ nợ nói chung được phân chia thành hai loại, là nợ trong nước và nợ nước ngoài. Sự phân loại này không chỉ mang ý nghĩa địa lý, mà nhiều khi còn bao hàm về đơn vị s dụng tiền tệ s dụng để vay. Do có cả nợ công và nợ tư, nên có thể phân chia nghĩa vụ nợ thành nợ công nước ngoài, nợ tư nước ngoài, nợ công trong nước và nợ tư trong nước.
Chúng ta chỉ quan tâm đến nợ công, tức là nợ công trong nước và nợ công nước ngoài. Công cụ để thực hiện các khoản vay nợ trong nước bao gồm tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ, trong đó phổ biến nhất vẫn là trái phiếu. hân theo cấp quản lý thì trái phiếu sẽ được phân thành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền 8 địa phương. Việc phát hành các trái phiếu này cũng chính là cách để các cấp quản lý có thể thực hiện việc vay nợ của mình.
Theo định nghĩa trong Luật quản lý nợ công thì trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư cụ thể. Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là loại trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trở lên, do doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn cho dự án đầu tư theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh. Trái phiếu chính quyền địa phương là loại trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trở lên, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành hoặc ủy quyền phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương. Vay nợ nước ngoài theo quy định của Luật quản lý nợ công Việt am được phân chia thành vay hỗ trợ phát triển chính thức vay ODA , vay ưu đãi và vay thương mại.
Vay ODA là khoản vay nhân danh hà nước và Chính phủ Việt am từ nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, tổ chức tài trợ song phương, tổ chức liên quốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ có yếu tố không hoàn lại thành tố ưu đãi đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc, 25% đối với khoản vay không ràng buộc. Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA. Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường thông qua phát hành trái phiếu quốc tế. So sánh về rủi ro tín dụng, trái phiếu trong nước phát hành bằng nội tệ có thể xem như không có rủi ro khi chính phủ hoàn toàn có thể thực thi những chính sách như tăng thuế, cắt giảm chi tiêu hoặc thậm chí in thêm tiền để thanh toán đầy đủ cả vốn lẫn lãi khi đáo hạn.
Tại hầu hết các quốc gia phát triển, việc in tiền không được phép tiến hành một cách trực tiếp mà phải thông qua ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, để cung cấp tiền nhằm giải ngân cho các khoản vay nợ của chính phủ, ngân hàng trung ương hoàn toàn có thể mua trái phiếu chính phủ, đây chính là cách để ngân hàng trung ương bơm thêm tiền vào nền kinh tế bởi những tác động tăng tỉ lệ lạm phát và hạ giá đồng nội tệ. Điều này đã xảy ra nhiều lần trong lịch s , một ví dụ 9 điển hình vào những năm 1920s, Đức đã rơi vào tình trạng siêu lạm phát khi chính phủ không có khả năng trả các khoản nợ khổng lồ sau chiến tranh thế giới thứ nhất. gược lại, trái phiếu quốc tế phát hành bằng ngoại tệ lại có rủi ro tín dụng lớn hơn.
hi lượng dự trữ ngoại tệ của chính phủ là có hạn, nhiều khả năng chính phủ sẽ không trả nổi nợ khi đáo hạn. Bên cạnh đó, việc đi vay bằng ngoại tệ còn đi kèm với những rủi ro liên quan đến tỉ giá hối đoái. Sự dao động của tỉ giá hối đoái hoàn toàn có thể khiến cho các khoản vay bằng nợ nước ngoài cao hơn dự tính ban đầu của chính phủ. Còn một rủi ro khác nếu nhìn vào cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp, sau khi quốc gia này gia nhập khu vực đồng tiên chung châu Âu, đó chính là việc mặc dù s dụng đồng euro, các khoản vay đều bằng đồng euro nhưng chính phủ lại không thể tự do in tiền để trả các khoản nợ này nếu không có sự đồng thuận từ các quốc gia thành viên khác trong khối eurozone.