Chương 1 C Ộ• I N G U Ổ N C Ủ A N G H Ệ• T H U Ậ• T VÀ T R IẾ T H Ọ• C 1. CỘI NGUỔN CỦA NGHỆ THUẬT 1. Các tư tưởng cơ bản của Mác - Ảngghen về nguồn gốc của ý thức thẩm mỹ Trong lịch sử mỹ học có rất nhiều quan niệm khác nhau về cội nguồn của nghệ thuật. Các nhà mỹ học trước Mác và ngoài mácxít đã đé cập và bàn đến cội nguồn của nghệ thuật trong rất nhiều tác phẩm khác nhau.
Platon, trong tác phẩm lun đã nghién cứu và trình bày cội nguôn của nghệ thuật từ các hoạt động linh cảm của con người. Nhà bách khoa toàn thư thời cố đại- Arixtốt đã chứng minh cội nguồn của nghệ thuật là bản nănạ bắt chước của cun nạười. Mỹ học của I.Kant khẳng định cội nguồn của nạhệ thuật thuần túy là các tro chơi cá nhản. Còn nhà phân tâm học nổi tiếng Freud đã khắng định : Các (>iấí mơ là cội nguồn chân chính của nghệ thuật.
Khác với tất cả các nhà triết học trên, Mác và Ảngghen đã khẳng định nghệ thuật có nguồn gốc từ lao đông thực tiễn làm xuất hiện ý thức thẩm mỹ ở con người. Nhận thức duy vật về lịch sử là cơ sở quan trọng giải thích đúng đắn cội nguồn cua nghệ thuật. Ảngghen viết: “ Giống như Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển cúa thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sứ loài người : Cái sự thật giản dơn đã bị nhữnạ tầng tầng lớp lớp tư tưởng phủ kín cho đến nẹày nay là : Con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rổi mới có thế làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và v. được; vì vậy, việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính, mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quy én, nghệ thuật, và thậm chí ca những quan niệm tôn giáo của con người ta, cho nén 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải xuất phát từ cơ sở đó mà giải thích những cái này, chứ không phải ngưưí lại, như từ trước đến nay người ta đã làm”[40,499-450], Vê mặt phương pháp luận, luận điểm này giúp cho luận văn có cơ sơ triển khai hướng nghiên cứu về quá trình nảy sinh ý thức thẩm mỹ từ trơn ẹ thực tiễn lao động sản xuất, mà trước hết là chính quá trình tạo tác cônẹ cụ của người tiền sử.
Hoạt động chế tác công cụ phục vụ cho hai hình thức nhu câu cơ bản của đời sống vật chất và đời sống tinh thán, nhạn thức, đã được người nguyên thủy tiến hành. Điều này cho phép chúng ta nhìn nhận biện chứng hơn về cơ sở của hai nhân tố vật chất và tinh thần trong mọi hoạt động của con người. Những nhu cầu của đời sống vật chất đi trước, nhưng ngay sau đó và đồng thời cùng với nó, nhu cầu của đời sống tinh thần được nảy nớ, chúng luôn song song tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề và ảnh hưởng tới sự phát triển của nhau trong mọi hoạt động của con người. Có thế luận chứng một cách cụ thể hơn như sau : Thế giới vật chất trong sự vận động vô cùng tận của nó đã phơi bày - giới tự nhiên, như là tác phẩm của nó, trong tính hiện thực của nó.
Sinh tồn thực thụ trên trái đất này là sinh tồn có tính tộc loại. Ngươi nguyên thủy trong cuộc sống thích nghi đã tìm cách vượt qua bản thân sự hiện diện của giống loài của mình trong tính quy định của sự hiện thán như một mắt xích, một trật tự của thế giới vật chất vận động vô tận - bãng quá trình lau độnẹ thích nạhi phổ biến.Mác, trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, đã chỉ ra rằng: “Con vật đồng nhất trực tiếp hoạt động sinh sông của nó. Nó không tự phân biệt nó với hoạt động sinh sống của nó. Nó là hoạt động sinh sông ấy.
Con con người thì làm cho bản thán hoạt độnq sinh sốn% của mình trở thành dối tượnẹ của V chí và cứa ý thức của mình. Hoạt động sinh sống của con người là hoạt động sinh sống có ý thức. Đó khỏng phải là cái tính quy định mà con người trực tiếp hòa làm một với nó. Hoạt động sinh sống có ý thức trực tiếp phân biệt con người với hoạt động sinh sống cua con vật.
Chính chỉ vì thế mà con nẹười là một sinh vật có tính /ớà/”[44,136|. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong những giai đoạn đầu của lao động thích nghi, người nguyên thùv vẫn chưa đạt tới hình thức sản xuất đặc thù của xã hội. Ớ trinh độ đó, hình thức nguyên thủy của ý thức được tìm kiếm trong chính quá trình người nguyên thủy sử dụng các vật có sẵn trong tự nhiên làm dụng cụ ( hoạt động dụng cụ tính), dẫn đến giai đoạn chế tác công cụ đầu tiên của loài người. Còn trong tính “hiện thực trực tiếp” của nó, ý thức được khảo cứu thỏng qua đặc trưng ngôn ngữ.
Có hai cơ sở tạo nên con người, đó là lao động và ngôn ngũ', lúc đầu là ngôn ngữ cử chỉ chỉ dẫn. Ảngghen viết: “Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ ; đó là hai sức kích thích chu yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyến thành bộ óc của con người”[41,646 ]. Trong hoạt động sinh tôn, n^ỏn ngữ cử chỉ chí dần được bây đan sãn bát triển khai trước đối tượng, thoạt tiên bằng hình thức vòng cung của cử chỉ chỉ dẫn hướng vể con mồi. Đó chính là hình thức người này lặp lại người khác, cho chính mình, và soi mình, tự nhận ra mình trước tiên chỉ trong một người khác : “Nhân vì họ, đổng thời mỗi người nói với chính mình dấu hiệu ma họ phát ra cho nhau, khiến cho tự lần lộn vào nhau tron ẹ cùn ạ một sự vận động trưng đó mỗi người thấy mình trong nhữnạ kẻ khác như trong chính mình.
Do đó mà dấu hiệu, xuất hiện như vậy đối với mỗi cá nhân như là vốn sống trong bản thân với tư cách hắn tham gia hành vi của nhóm và đồng nhất hóa với nhóm, trên một ý nghĩa nào đó là được mang vác bởi bản thán quan hệ xã hội” [61, 37-38]. Động tác chỉ dẫn qua lại, trong lao động tập thể thích nghi, bao hàm một sự đổng hóa hoàn toàn giữa các chủ thể, họ chỉ dẫn lẫn cho nhau đối tượng trong nỗ lực chung của họ : như thế ý thức nảy sinh như là “đơn giản quần đoàn” hoặc “ý thức cừu đàn”. Cái thực tiễn hãy còn là “vô danh” [61,41 ]. Nhờ sự lặp lại bền vững trong hành vi lao động thích nghi cùa loài, bầy đàn nguyên thủy trong trình độ cao hơn đã đạt đến một thứ ngon ngữ chí dần trực tiếp - thao tác chỉ dẫn trực tiếp từ xa hướng thẳng tới đối tượng va tronẹ chiêu nẹược lại cho chính mình (được trừu xuất từ hình thức chi dẫn vòng cung và nội hàm trong nó ngôn ngữ cử chỉ chỉ dẫn hình vong cung).
8 ' LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên đây là những tién đề chuẩn bị cho những bước tiến dài của người nguyên thủy trong hành vi chuẩn bị dụng cụ vắng mặt đôi tượng sản bảt. Chính vì khả năng có th ể cảm giác trong tính xác thực vé thực té khách quan tính ngoại hiện của đối tượng (cảm giác có được từ một khoản %cách xa đối tượng mà động tác chỉ dẫn có thể đạt tới đối tượn í>băn ẹ khoản o cách không gian và bằng trực chỉ). Với tính chất này, ở trình độ người vượn giúp cho bầy đàn nguyên thủy không chỉ ở khả năng ghi nhớ trong đầu hình ảnh về con mồi, mà xa hơn, có thể tái hiện hình ảnh ấy bằng hình thức ký ức còn phôi thai trong những điều kiện đối tượng vắng mặt như khi bầy đàn không còn bị hối thúc bởi hành vi sinh tồn trực tiếp, mà là những hoạt động sinh hoạt có tính chất “công xưởng” trong hang động cư trú của mình. Như vậy, với việc chuẩn bị dụng cụ trong điều kiện vắng mặt khách thể, người nguyên thúy trong lao động thích nghi buộc phải gia tăng vai trò của bộ não (hoạt động của ký ức, trí nhớ hình ảnh về con mồi đến những chỉ dẫn ban đầu của ý thức cho những thao tác chuấn bị dụng cụ xa cách đối tượng sơ khai nhất).
Vai trò não bộ càng được gia tăng với sự tích tụ kinh nghiệm trong giai đoạn thao tác ghè đẽo đế vượt qua thói quen sử dụng đá sắc có sẵn trong tự nhiên làm dụng cụ lao độnẹ. Sự phân biệt vai trò của hai hòn đá trở thành tất yếu, khi bầy đàn nguyên thủy lấy một hòn đá làm đối tượng lao động và một hòn đá khác trơ thành thủ đoạn lao độnẹ, làm nên tiến trình ghè đẽo. Chủ thể của thói quen tạo công cụ một cách đặc trưng như vậy (dùng công cụ trung gian tạo ra cóng cụ - cởng cụ của cống cụ) đã tiên những bước dài trớ thành chủ thế cúa một tiến trình lao động kinh nghiệm. Mác viết : “Cô nhiên, con vật cũng san xuát.
Nó xây dựng tổ, chỗ ở của nó, như con ong, con hải ly, con kiếnv. Nhưng con vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến; nó sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người sán xuất một cách toàn diện ; con vật chỉ sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp. Lao động của con ong đổng nhất với thú đoạn duy trì sự sông, qua việc đáp ứng các nhu câu sinh hoạt vật chất trực tiếp cua nó. Còn hoạt động lao động của con người đi từ cảm giác về tính ngoại hiện trực tiếp khách quan của đối 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tượng đến kinh nghiệm vê đối tượng dẫn tới sự tái hiện hình ảnh vé đối tượng, chính là cơ sở dẫn tới tư duy hình tượng, sau đó là tư duy hình tượng nghệ th u ậ t.