Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 này nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý luận cho nghiên cứu. Trên cơ sở này, một mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được xây dựng. Chương này bao gồm ba phần chính, (1) Các khái niệm liên quan như : Đổi mới, Đổi mới tổ chức, Đổi mới sản phẩm, Đổi mới quy trình/ công nghệ, Đổi mới Marketing (2) Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan và (3) Mô hình nghiên cứu.
Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm đổi mới Đổi mới sáng tạo (còn gọi là đổi mới) đã trở thành động lực chính của sự vững mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh quốc gia. Hầu hết mọi người đều cho rằng đổi mới chỉ mang khía cạnh công nghệ tạo ra các sản phẩm mới nổi bật, như iPad của hãng Apple, PlayStation của Sony, hay áp dụng trí tuệ nhân tạo vào kinh doanh,. Một số khác cho rằng đổi mới chỉ gắn liền với các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) được tiến hành tại các trường đại học, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.
Quan niệm trên còn quá hạn chế bởi đổi mới sáng tạo bao hàm ý nghĩa rộng hơn nhiều (Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, 2012). Luan van 5 Đổi mới trong ý nghĩa hiện đại của nó là "một ý tưởng mới, những suy nghĩ sáng tạo, hay các trí tưởng tượng mới dưới dạng thiết bị hoặc phương pháp". Đổi mới thường được xem là ứng dụng của các giải pháp tốt hơn đáp ứng các yêu cầu mới, các nhu cầu thị trường hiện có. Sự đổi mới như vậy diễn ra thông qua việc cung cấp các sản phẩm mới, quy trình mới, dịch vụ mới, công nghệ mới hoặc mô hình kinh doanh hiệu quả mới (Maranville,1992).
Theo Frankelius & Per (2009) đổi mới có liên quan đến, nhưng không giống như phát minh, vì đổi mới có nhiều khả năng liên quan đến việc triển khai thực tế một phát minh (tức là khả năng mới / cải tiến) để tạo ra tác động có ý nghĩa trong thị trường hoặc xã hội, và không phải tất cả các đổi mới đòi hỏi một phát minh (Kim & Bhasin, 2012). Một định nghĩa khá đầy đủ của đổi mới sáng tạo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) là "thực hiện một sản phẩm mới hay một sự cải tiến đáng kể (đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể), một quy trình, phương pháp marketing mới, hay một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh, tổ chức nơi làm việc, hay các mối quan hệ đối ngoại" (OECD, 2010). Từ đây, chúng ta có thể thấy khái niệm đối mới bao gồm cả khía cạnh công nghệ và phi công nghệ. Trong nghiên cứu này, khái niệm đổi mới được sử dụng bao gồm: đổi mới sản phẩm/ dịch vụ; đổi mới công nghệ và đổi mới tổ chức.
Đổi mới tổ chức Đổi mới tổ chức liên quan đến nâng cấp quy trình quản lý thông qua phương pháp mới trong kinh doanh (Cheng và cộng sự, 2014). Đổi mới tổ chức có thể Luan van 6 cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh bằng cách hỗ trợ những thay đổi cần thiết, giảm chi phí giao dịch và hành chính, cải thiện sự hài lòng tại nơi làm việc, giảm chi phí đầu vào (Cruz et al. Theo Kemp and Arundel (1998), đổi mới tổ chức bao gồm các chương trình huấn luyện, chương trình thiết kế sản phẩm, sự sáng tạo của nhóm quản lý trong giải quyết vấn đề. Theo Cruz và cộng sự (2006) đổi mới tổ chức liên quan đến nỗ lực quản lý để làm mới thói quen tổ chức, thủ tục, cơ chế hoặc hệ thống để tạo ra sự đổi mới sinh thái cuối cùng.
Đổi mới sản phẩm Đổi mới sản phẩm đề cập đến việc tạo ra và giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ mới, theo đó, chiều hướng đổi mới gắn liền với tốc độ đổi mới (tức là thời gian cần thiết để phát triển sản phẩm mới), khả năng thay thế sản phẩm thường xuyên bằng các phiên bản cải tiến và khả năng giới thiệu sản phẩm mới cho các thị trường mới (Prajogo & Sohal, 2006). Đổi mới sản phẩm là các hàng hóa hoặc dịch vụ mới hay được cải tiến mà có sự khác biệt đáng kể so với hàng hóa hoặc dịch vụ trước đó của công ty và đã được giới thiệu trên thị trường (OECD, 2018). Đổi mới sản phẩm phải cung cấp những cải tiến đáng kể cho một hoặc nhiều đặc thù hay thông số kỹ thuật đặc tả về “hiệu suất”. Điều này bao gồm việc bổ sung các chức năng mới, cải tiến các chức năng hiện có hay tiện ích người dùng.
Đặc điểm các chức năng có liên quan bao gồm chất lượng, thông số kỹ thuật, độ tin cậy, độ bền, hiệu quả kinh tế trong quá trình sử dụng, khả năng chi trả, sự tiện lợi, khả năng sử dụng và sự thân thiện với người dùng. Việc đổi Luan van 7 mới sản phẩm không nhất thiết phải cải thiện tất cả các chức năng hoặc thông số kỹ thuật hiệu suất. Việc cải tiến hoặc bổ sung thêm một chức năng mới cũng có thể kết hợp với việc hao hụt các chức năng khác hay suy giảm đi một số thông số kỹ thuật hiệu suất (OECD, 2018). Theo OECD (2018), đổi mới sản phẩm có thể liên quan đến hai loại sản phẩm chung là hàng hóa và dịch vụ như sau: o Hàng hóa bao gồm các vật thể hữu hình và một số sản phẩm hình ảnh mà quyền sở hữu có thể được thiết lập và được chuyển giao thông qua các giao dịch thị trường.
o Dịch vụ là các hoạt động phi vật chất được đồng thời sản xuất, tiêu thụ và thay đổi các điều kiện (ví dụ: thể chất, tâm lý, v.) của người dùng. Sự tham gia của các người dùng thông qua thời gian, lợi ích, sự chú ý, truyền tải thông tin từ họ thường là điều kiện cần thiết dẫn đến việc hợp tác sản xuất dịch vụ của người dùng và công ty. Do đó, các thuộc tính hoặc trải nghiệm của một dịch vụ có thể phụ thuộc vào đầu vào của người dùng. Đổi mới Marketing Đổi mới Marketing là việc thực hiện một phương pháp tiếp thị mới liên quan đến thay đổi đáng kể trong thiết kế hoặc bao bì sản phẩm, vị trí sản phẩm, quảng cáo sản phẩm hoặc giá cả (Murat Atalay và cộng sự , 2013).
Luan van 8 Các đổi mới tiếp thị nhằm giải quyết tốt hơn nhu cầu của khách hàng, mở ra thị trường mới (vd: thực hiện một thay đổi đáng kể trong thiết kế của dòng đồ nội thất để mang lại cho nó một diện mạo mới) (Murat Atalay và cộng sự, 2013). Đổi mới quy trình/ công nghệ (technological innovation) Theo OECD (2005), đổi mới công nghệ bao gồm các sản phẩm và quy trình mới và những thay đổi công nghệ quan trọng của sản phẩm và quy trình. Một đổi mới đã được thực hiện nếu nó đã được giới thiệu trên thị trường. Đổi mới công nghệ là không thể tránh khỏi đối với các công ty muốn phát triển và duy trì tính cạnh tranh cạnh hoặc đạt được mục tiêu thâm nhập vào thị trường mới (Souitaris, 2002).
Đổi mới công nghệ là việc thay thế một phần chính hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiến tiến hơn, hiệu quả hơn. Đổi mới công nghệ có thể nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường. Theo Branscomb (2001), dổi mới công nghệ là việc thực hiện thành công (trong thương mại hoặc quản lý) của một ý tưởng kỹ thuật mới. Những đổi mới được phân biệt với các phát minh.
Đổi mới công nghệ đóng một vai trò ngày càng nổi bật trong sự tăng trưởng của các nền kinh tế công nghiệp hàng đầu. Các mô hình của quá trình đổi mới công nghệ đã phát triển theo thời gian và hiện có thể tính đến nhiều yếu tố bên ngoài công ty ảnh hưởng đến khả năng đổi mới (Branscomb, 2001). Luan van 9 Theo Christian và cộng sự (2018), đổi mới công nghệ được coi là phương tiện để tối ưu hóa việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực quan trọng trong các hệ thống kinh tế xã hội-sinh học. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm đổi mới công nghệ là sự thay đổi trong quy trình hoặc trong công nghệ của các máy móc thiết bị.
Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan Trong phạm vi liên quan đến đề tài, tác giả lược khảo một số nghiên cứu liên quan đến câu hỏi việc đổi mới đến kết quả hoạt động của công ty như doanh thu, lợi nhuận, chi phí như thế nào. Theo Philipp Koellinger (2008) thu thập dữ liệu từ 7302 công ty tại khu vực châu Âu để kiểm định mối quan hệ việc sử dụng công nghệ thông qua internet, các loại đổi mới khác nhau và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các loại đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình (bao gồm cả sản phẩm có liên quan đến thương mại điện tử và sản phẩm truyền thống) đều có ảnh hưởng tích cực đến doanh thu và sự tăng trưởng lực lượng lao động. Cũng trong năm 2008, một nghiên cứu khác là José Carlos Pinho, (2008) nghiên cứu các công ty vừa và nhỏ tại Bồ Đào Nha về mối quan hệ giữa TQM (Total Quality Management), định hướng khách hàng (customer orientation) và đổi mới (innovation) đến hoạt động của doanh nghiệp.
Tác giả kết luận rằng hầu hết các thành phần cấu thành nên TQM đều ảnh hưởng đến định hướng khách hàng và kết quả hoajrt động doanh nghiệp. Trong khi đó TQM không ảnh hưởng đến đổi mới. Tuy nhiên đổi mới lại ảnh hướng đến kết quả hoạt động doanh nghiệp. Luan van 10 Tiếp theo, Mile Terziovski (2010) nghiên cứu 600 công ty vừa và nhỏ tại Australia và kết luận rằng cấu trúc doanh nghiệp (formal structure) và chiến lược đổi mới (innovation strategy) là chìa khóa chính ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
Cheng và cộng sự (2014) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới (đổi mới quy trình, đổi mới sản phẩm, đổi mới tổ chức) đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp ở 121 doanh nghiệp tại Đài Loan. Nghiên cứu đã khẳng định việc đổi mới tổ chức (organizational innovation) có ảnh hưởng tích cực nhất đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong khi đó đổi mới quy trình (process innovation) và đổi mới sản phẩm (product innovation) ảnh hướng đến đổi mới tổ chức, và đổi mới tổ chức ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp (business performance).