Chương 1: Trình bày cơ sở lý thuyết và kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu của các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chương 2: Đưa ra mô hình và giới thiệu về phương pháp được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ nhân quả. Chương 3: Mô tả số liệu và kết quả nghiên cứu. So sánh kết quả tìm thấy khi sử dụng hai phương pháp kiểm định khác nhau.
Chương 4: Kết luận, đưa ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 1.1 Cán cân ngân sách, tài khoản vãng lai, cán cân thƣơng mại 1.1 Cán cân ngân sách chính phủ (GB) Cán cân ngân sách gồm 2 thành phần: thu ngân sách và chi ngân sách *Thu ngân sách: Thu ngân sách của chính phủ từ các nguồn sau: - Thuế: gồm các loại thuế gián thu và thuế trực thu. Đây là nguốn thu chính, lớn và ổn định của ngân sách quốc gia - Phí và lệ phí - Các khoản nhận viện trợ từ nước ngoài - Ngoài ra để tiện hạch toán, người ta quy ước xem các khoản vay trong nước và vay nước ngoài của chính phủ là bộ phận của tổng thu ngân sách. Trong các nguồn thu vừa nêu, thì nguồn thu quan trọng, ổn định và lớn nhất của ngân sách chính phủ là nguồn thu từ thuế.
Ba bộ phận còn lại tương đối nhỏ và không ổn định; nên để đơn giản trong phân tích, ta coi như nguồn thu ngân sách là thuế. *Chi ngân sách Chi ngân sách của chính phủ được chia làm hai loại: (1) Chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ (G): Trong chi tiêu g gồm hai bộ phận; + Chi tiêu thường xuyên của chính phủ (Cg) gồm tiền trả lương cho cán bộ công nhân viên chức, chi mua văn phòng phẩm, điện, nước… trong khu vực công + Chi đầu tư của chính phủ (Ig) là lượng tiền chính phủ chi ra để xây dựng cơ sở hạ tầng như: trường học, bệnh viện, đường xá, bến cảng, sân bay… 6 (2) Chi chuyển nhượng (Tr): là khoản tiền chính phủ chi cho một đối tượng nào đó mà không cần có hàng hóa và dịch vụ tương ứng, gồm chi trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp cho người già và người khuyết tật, trợ cấp học bổng *Tình hình ngân sách chính phủ Khi so sánh giữa thu và chi ngân sách, sẽ cho ta biết tình trạng ngân sách của chính phủ: ba trường hợp có thể xảy ra - Khi thu ngân sách lớn hơn chi ngân sách: T> G -> T-G>0: Ngân sách thặng dư. Nguyên nhân của tình trạng này có thể do nhà nước đã huy động nguồn lực quá mức cần thiết, hoặc nhà nước đã không xây dựng được chương trình chi tiêu tương ứng với khả năng tạo nguồn thu; nhưng cũng có thể là do nền kinh tế đang rất thịnh vượng, thu ngân sách nhà nước dồi dào và nhà nước chủ ý sắp xếp thặng dư ngân sách nhà nước cho những tài khóa tiếp theo. - Khi thu ngân sách nhỏ hơn chi ngân sách: T< G -> T-G<0: Ngân sách bị thâm hụt.
Trường hợp này, thu ngân sách nhà nước không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu. Nguyên nhân có thể do nhà nước không sắp xếp nhu cầu chi tiêu phù hợp cho phù hợp với khả năng; cơ cấu chi tiêu và đầu tư không hợp lý gây lãng phí; không có biện pháp thích hợp để khai thác đủ nguồn lực và nuôi dưỡng nguồn thu; nhưng cũng có thể do nền kinh tế suy thoái theo chu kỳ hoặc ảnh hưởng bởi thiên tai hay chiến tranh, thu ngân sách nhà nước giảm tương đối so với nhu cấu chi tiêu để phục hồi nền kinh tế. Bội chi ngân sách là tình trạng được quan tâm đặc biệt. Bởi vì, nó biểu hiện cho thấy sự thiếu hụt nguồn lực so với nhu cầu, có tác động đa chiều đối với nền kinh tế và chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại.
Chẳng hạn, chính sách chủ động bội chi trong phạm vi kiểm soát được có thể đưa nền kinh tế thoát khỏi giai đoạn suy thoái. Song bội chi kéo dài sẽ làm cho nợ công gia tăng, kết quả là tạo sức ép với chính sách quản lý nợ và chèn ép đầu tư của khu vực tư, áp lực gia tăng lạm phát…Nhưng cũng như mọi sự vật và hiện tượng khác, cân bằng thu –chi ngân sách nhà nước là 7 tương đối chứ không tuyệt đối, luôn ở trạng thái vận động, cân bằng và không cân bằng chuyển hóa lẫn nhau, Nói cách khác, bên cạnh xem xét theo từng tài khóa, việc xem xét cân đối ngân sách nhà nước trong cả một chu kỳ là hết sức cần thiết; mặt khác, nếu mức bội chi ở trong phạm vi kiểm soát được và tình trạng đó đảm bảo cho ngân sách nhà nước thực hiện được các vai trò vốn có của nó, thì bội chi trong trường hợp này là cần thiết, chủ động. Khi thu ngân sách ằng chi ngân sách: T= G -> T-G=0: Ngân sách cân bằng, nghĩa là nguồn thu huy động vừa đủ trang trải nhu cầu chi tiêu. Chính sách tài khóa Chính sách tài khóa có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát.
Như vậy, việc thực thi chính sách tài khóa sẽ do chính phủ thực hiện liên quan đến những thay đổi trong các chính sách thuế hoặc/và chi tiêu chính phủ. Cần phải lưu ý rằng, chỉ chính quyền trung ương (chính phủ) mới có quyền và chức năng thực thi chính sách tài khóa, còn chính quyền địa phương không có chức năng này. Đây cũng chính là một trong những yếu tố gi p phân biệt giữa một chính sách tài khóa với một chính sách chi tiêu thuộc phạm vi ngân sách theo phân cấp của chính quyền địa phương. Chính sách tài khóa thường gắn liền với trường phái Keynes, theo tên nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes.
Những nghiên cứu chính của ông như “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã ảnh hưởng đến những tư tưởng mới lý giải về cách thức nền kinh tế hoạt động và vẫn được nghiên cứu cho đến ngày nay. Hầu hết lý thuyết của ông được phát triển trong thời kỳ Đại khủng hoảng. Đến nay lý thuyết của Keynes đã được dùng cũng như bị vận dụng sai không ít lần, bởi nó khá phổ biến và chỉ áp dụng đặc thù để giảm ảnh hưởng trong thời kỳ suy thoái. Một cách ngắn gọn, học thuyết kinh tế trường phái Keynes dựa trên tư tưởng rằng sự chủ động từ chính phủ là cách duy nhất để chèo lái nền kinh tế.
Điều này 8 ngụ ý rằng chính phủ nên sử dụng quyền hạn của mình để tăng tổng cầu bằng cách tăng chi tiêu và tạo ra môi trường lưu thông tiền tệ dễ dàng, từ đó kích thích nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và cuối cùng tăng thêm của cải trong xã hội. Phong trào dựa trên lý thuyết của Keynes cho rằng chính sách tiền tệ bản thân nó có những hạn chế trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính, vì vậy đã tạo ra cuộc tranh luận giữa những nhà kinh tế theo trường phải Keynes và những người ủng hộ chính sách tiền tệ. Người ủng hộ chính sách tiền tệ như Milton Friedman và người theo trường phái “trọng cung” cho rằng những động thái đang diễn ra của chính phủ sẽ chẳng thể cứu vãn đất nước thoát khỏi giai đoạn khủng hoảng khi mà mức GDP dưới trung bình ngày càng mở rộng, còn lãi suất thì bất ổn. Mục tiêu của chính sách tài khóa: ảm sự giao động của chu kỳ kinh doanh; ền kinh tế ở mức sản lượng tiềm năng.
Chính sách tài khóa, trong ngắn hạn, điều tiết sản lượng thực tế, lạm phát, thất nghiệp nhằm ổn định kinh tế. Trong dài hạn, chính sách tài khóa điều chỉnh cơ cấu kinh tế và th c đẩy tăng trưởng lâu dài. Để thực thi chính sách tài khóa thì chính phủ sẽ cần phải sử dụng các công cụ của nó. Các công cụ của chính sách tài khóa bao gồm các công cụ về thuế, công cụ chi tiêu, và công cụ tài trợ cho thâm hụt ngân sách.
Có nhiều loại thuế khác nhau như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bất động sản, v. nhưng có thể chia ra làm hai loại thuế là thuế trực thu (direct taxes) và thuế gián thu (indirect taxes). Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp lên tài sản và/hoặc thu nhập của người dân, còn thuế gián thu là thuế đánh lên giá trị của hàng hóa, dịch vụ trong lưu thông thông qua các hành vi sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế. Tương tự, các chính sách chi tiêu của chính phủ cũng hết sức đa dạng nhưng cũng có thể tạm chia thành hai phần chính là chi tiêu thường xuyên (như chi lương cho công chức, chi cho các hoạt động giáo dục, y tế, khoa học-công nghệ, an ninh-quốc phòng) và chi đầu tư phát triển (như chi xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội).
Ngoài công cụ thuế và chi tiêu, các công cụ 9 tài trợ cho thâm hụt ngân sách hay tài trợ nợ của chính phủ (tạm gọi là nợ công) cũng là một phần của chính sách tài khóa. Tùy vào thực trạng của nền kinh tế, Chính phủ sẽ sử dụng các chính sách tài khóa khác nhau: +Chính sách tài khóa trung lập (neutral fiscal policy): là chính sách cân bằng ngân sách, tức chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được tài trợ từ nguồn thu của chính phủ và nhìn chung là có tác động trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế. + Chính sách tài khóa mở rộng (expansionary fiscal policy): là chi sách tăng cường chi tiêu của chính phủ và/hoặc giảm bớt nguồn thu thuế. Chính sách này được áp dụng khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái.
+ Chính sách tài khóa thu hẹp (contractionary fiscal policy): là chính sách giảm bớt chi ngân sách hoặc/và tăng nguồn thu của chính phủ (tăng thuế). Chính sách này được áp dụng khi nền kinh tế đang ở tình trạng lạm phát cao.2 Tài khoản vãng lai (CA): Tài khoản vãng lai ghi chép mọi luồng thu nhập đi vào và đi ra khỏi quốc gia trong một thời kì nhất định, do mua bán hàng hóa và dịch vụ, thu nhập từ đầu tư và các khoản chuyển giao.