CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC, TÍNH ÁI KỶ VÀ LÒNG TỰ TRỌNG 1. Tổng quan nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ và lòng tự trọng 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Cảm nhận hạnh phúc Công trình nghiên cứu đầu tiên về cảm nhận hạnh phúc đó là cuốn sách “Khoa học về hạnh phúc” (The Science of Happiness) của một nhóm tác giả xuất bản tại London năm 1861. Vào năm 1909, một cuốn khác cùng tên của Henry S.
William xuất bản tại New York tiếp tục gây được sự chú ý nhất định trong giới học thuật. Từ đó, các công trình, chuyên khảo, bài báo. có xu hướng nghiên cứu khoa học về hạnh phúc dần dần xuất hiện. Đến những năm 1960 của thế kỷ XX, khoa học về hạnh phúc không còn dừng lại ở những suy tư triết học, mà đã dần trở thành khoa học thực nghiệm, nhất là đối với ngành tâm lý học, xã hội học, không chỉ ở Tây Âu, mà còn ở Bắc Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới.
Tuy vậy, phải đến gần đây, ở Phương Tây, người ta mới thừa nhận Khoa học Hạnh phúc (Science of Happiness) là một ngành nghiên cứu tương đối độc lập với đối tượng nghiên cứu là hạnh phúc. Martin Sehgman, GS. Đại học Pennsylvania, Chủ tịch Hiệp hội bác sĩ tâm lý Mỹ là một trong những người nhiệt thành lên tiếng đòi môn nghiên cứu về hạnh phúc phải được chú trọng với tính cách là một khoa học liên ngành, chuyên nghiên cứu định lượng về hạnh phúc, nhằm bổ sung, thay thế cho những lĩnh vực mà triết học và tôn giáo còn đang giải thích một cách rối rắm hoặc trừu tượng. Từ đầu thế kỷ XX thì khái niệm hạnh phúc chủ quan (Subjective Well- being) mới được hình thành để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “điều gì làm cho con người ta cảm thấy hạnh phúc?”.
Sự khởi điểm chỉ bắt đầu khi vào năm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1980 – 1990, các nghiên cứu về hạnh phúc chủ quan mới thực sự được quan tâm và chú ý đến (Diener, 1984; Argyle, 1987; Myers, 1992; Ryff, 1989; Diener, 2000; Keyes, 1998, 2002). Thời điểm từ năm 1925, tác giả Flugel nghiên cứu tâm trạng bằng cách ghi chép lại các sự kiện tình cảm và sau đó tổng hợp phản ứng cảm xúc qua từng khoảnh khắc. Việc làm này của Flugel là tiền thân của phương pháp thực nghiệm mẫu hiện đại để đo lường sự cảm nhận hạnh phúc chủ quan trực tuyến như con người nói về cuộc sống hàng ngày của họ. Sau thế chiến thứ hai, các nhà nghiên cứu bắt đầu cho mọi người khải sát bằng cách bỏ phiếu về sự hạnh phúc và sự hài lòng với cuộc sống thông qua bảng hỏi dùng cho mẫu toàn cầu.
Các cuộc thăm dò dư luận được nghiên cứu trên một số lượng lớn những người thường được chọn để tạo các mẫu đại diện của các quốc gia. George Gallup, Gerald Gurin và các đồng nghiệp và Hadley Cantril đi tiên phong trong việc sử dụng các cuộc điều tra quy mô lớn như là một kỹ thuật để đánh giá. Họ hỏi mọi người những câu hỏi như “Bạn làm thế nào để hạnh phúc?” Với các câu trả lời mức độ khác nhau từ “rất hạnh phúc” đến “không hạnh phúc”. Vào năm 1969, nhà nghiên cứu Norman Bradburn chứng minh tác động của sự hài lòng và khó chịu có phần độc lập tương đối và có những mối tương quan khác nhau, nó không đơn giản chỉ còn là hai mặt của sự đối lập.
Do đó, hai ảnh hưởng này phải nghiên cứu một cách riêng biệt để đạt được một bức tranh hoàn chỉnh của cảm nhận hạnh phúc của cá nhân. Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với lĩnh vực cảm nhận hạnh phúc chủ quan. Điều này cho thấy những nỗ lực của tâm lý học lâm sàng để loại bỏ trạng thái tiêu cực sẽ không nhất thiết phải thúc đẩy trạng thái tích cực. Việc loại bỏ các cơn đau chưa chắc đã tạo ra sự tăng cường tương đương về niềm vui; thoát khỏi thế giới của nỗi buồn và sự lo lắng không hẳn đã là đem lại sự hạnh phúc [8].
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nghiên cứu Wilson chưa có nhiều tài liệu đa dạng để tìm hiểu về "sự thừa nhận hạnh phúc" vào năm 1967, và cho đến năm 1984 thì tác giả Diener đã cung cấp một đánh giá có ý nghĩa lớn trong cơ sở dữ liệu về cảm nhận hạnh phúc chủ quan đã được tập trung vào những năm 1980. Phải cho đến thập niên 90, lĩnh vực nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc mới thực sự trở thành ngành khoa học. Tác giả Diener (1995) nghiên cứu thấy rằng ngay cả khi mức nhu cầu cơ bản đã được kiểm soát, thu nhập có ảnh hưởng khá lớn đến cảm nhận hạnh phúc của người dân của một quốc gia. Từ đó cho thấy những người dân ở những nước giàu nhất có xu hướng hạnh phúc nhất.
Điều này có thể bởi vì họ có nhiều của cải vật chất nhưng nó cũng có thể là vì các quốc gia giàu nhất có mức độ trải nghiệm những quyền con người cao hơn, tuổi thọ cao hơn và bình đẳng hơn. Cảm nhận hạnh phúc có thể mô tả như là sự hài lòng về cuộc sống nói chung. Các quan điểm lớn được một số tác giả đưa ra. Đối với Diener thì hiểu cảm nhận hạnh phúc là một khái niệm bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn các trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức độ thấp và sự hài lòng với cuộc sống ở mức độ cao (Diener, 2000).
Ngoài ra còn một tác giả khác là Keyes thì hạnh phúc bao gồm sự khỏe mạnh về tinh thần, những cảm xúc tích cực và sự vận hành tốt các chức năng tâm lý, xã hội trong cuộc sống (Keyes, 2002). Cummins và Lau (2003) thì cho rằng con người hạnh phúc khi họ hài lòng với những chiều cạnh làm nên chất lượng cuộc sống của mình. Vì thế mà hai tác giả đã xây dựng thang đo Chỉ số hạnh phúc cá nhân (Personal Well- being Index – PWI) trên cơ sở các chiều cạnh của chất lượng cuộc sống. Bài nghiên cứu “Tổng quan về hạnh phúc chủ quan” (Subjective well- being: a general overview) của Ed Diener và Katherine Ryan đã cung cấp một 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cái nhìn toàn diện về hạnh phúc chủ quan dưới góc độ những lợi ích xã hội và cá nhân, mối liên hệ với nhân khẩu học, những lý thuyết về nguồn gốc, và mối quan hệ của nó với văn hóa.
Các cách thức để tăng cường hạnh phúc cũng được đề cập và các tác giả cũng đưa ra luận điểm về những tranh cãi xung quanh việc những báo cáo quốc gia của hạnh phúc chủ quan về chính sách công cũng nên được xem xét và tận dụng, cùng với những chỉ báo kinh tế và xã hội, tất cả những chỉ báo này đều có khả năng phản án và tăng cường chất lượng cuộc sống của đất nước đó. Một là, về khái niệm “hạnh phúc chủ quan” (Subjective Well-being), Ed Diener và Katherine Ryan định nghĩa “hạnh phúc chủ quan là thuật ngữ có tính khái quát được sử dụng để mô tả mức độ hạnh phúc mà con người trải qua dựa trên những đánh giá chủ quan của họ về cuộc đời”. Hai là, về các phương pháp mà các tác giả tiếp cận thì bao gồm các phương pháp tự thuật và các phương pháp đo lường không mang tính tự thuật. Các phương pháp tự thuật nhóm phương pháp đo lường phổ biến được sử dụng để tiếp cận hạnh phúc chủ quan.
Nhóm phương pháp này yêu cầu người tham gia phải đưa ra những đánh giá theo tiêu chuẩn toàn cầu về sự hài lòng về cuộc sống hoặc mức độ họ trải nghiệm một số cảm xúc cụ thể. Những phương pháp này có thể khác biệt về thang đo, về khung thời gian, hoặc liệu rằng chúng có giống nếu so với các báo cáo được ghi lại trong quá khứ, tuy nhiên tất cả các phương pháp này đều hướng tới mục đích đo lường mức độ hạnh phúc từ góc độ chủ quan của các khách thể. Những phương pháp khác không mang tính tự thuật, ví dụ như quan sát, đánh giá nét mặt, đo lường chức năng sinh lý, và xem xét nhạy cảm cảm xúc giúp nhà nghiên cứu thu được những kết quả đo lường mang tính khách quan về hạnh phúc. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba là, về lợi ích của hạnh phúc, Ed Diener và Katherine Ryan đã chỉ ra rằng hạnh phúc và sự hài lòng về cuộc sống ở mức độ cao cải thiện đáng kể cuộc sống của con người trong bốn lĩnh vực là các mối quan hệ xã hội, công việc và mức thu nhập, sức khỏe và tuổi thọ và các lợi ích xã hội.
Tính ái kỷ Tính ái kỷ (tiếng anh gọi là Narcissism, nguồn gốc từ nghĩa La tinh là Narcissus). Xuất phát từ một câu chuyện thần thoại trong Hy Lạp khi chàng trai Narcissus đem lòng yêu bóng hình tuyệt đẹp của chính mình khi có một lần, chàng soi mình dưới dòng nước và yêu chính cái bóng đó. Cũng có truyện kể rằng chàng Narcissus vì không đáp lại tình yêu của nàng Echo xinh đẹp mà khiến nàng đau khổ tự vẫn chết. Chính sự kiêu ngạo này đã khiến Narcissus bị các vị thần giáng hình phạt là phải yêu chính cái bóng của mình dưới nước, mỗi lần chàng vươn tay định ôm lấy cái bóng đó thì nó lại tan biến đi mất.
Vì quá buồn cho thứ tình yêu mà không được đền đáp đó, kết cục Narcissus đã chết bên cạnh dòng nước. Một loài hoa mang tên Thủy Tiên đã ra đời tại nơi anh chết (phỏng theo Gantz và cộng sự, 1993). Theo tác giả Kernberg (1975) thì thần thoại về câu chuyện của chàng trai mang tên Narcissus đặt nền móng cho miêu tả về một căn bệnh lâm sàng có đặc điểm yêu bản thân thái quá, biểu hiện trong các đặc điểm như: Mình cao đẹp hơn người khác, sự kỳ vọng được ca tụng tán dương hay hâm mộ, sự phóng đại tài năng của chính mình và lợi dụng người khác để làm tư lợi cá nhân. Các nghiên cứu đã cung cấp thêm nhiều bằng chứng về độ hiệu lực của tính ái kỷ như là một nét nhân cách, cũng như độ hiệu lực của thang NPI (Narcissism Personality Inventory).
Cấu trúc yếu tố của thang NPI được tìm ra bởi Emmons (1984) cũng được xác nhận. Tính ái kỷ bao gồm 4 yếu tố có tương quan trung bình với nhau, liên quan đến 4 lĩnh vực lãnh đạo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.