ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (COVID-19) gây ra bởi chủng Virus corona gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng 2, viết tắt là SAR-CoV-2 (Severe acute respiratory syndrome corona virus 2), gây ra dịch bệnh sớm nhất tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc và đƣợc WHO tuyên bố là đại dịch vào ngày 11 tháng 3 năm 2020(1). Kể từ khi đƣợc WHO tuyên bố là đại dịch toàn cầu, SARS-CoV-2, virus gây ra COVID-19 đã lây lan sang 223 quốc gia với hơn 281 triệu trƣờng hợp mắc và hơn 5,4 triệu trƣờng hợp tử vong đƣợc báo cáo trên toàn cầu. Một bản cập nhật dịch tễ học gần đây của WHO, báo cáo rằng hơn 200 quốc gia trên thế giới đã báo cáo các biến thể SARS-Co-V-2 đáng lo ngại, trong đó có biến thể cần quan tâm (VOC) mới hơn. Cho đến nay, Omicron đã đƣợc 76 quốc gia báo cáo kể từ lần đầu tiên đƣợc báo cáo vào tháng 11 năm 2021.
Trên thực tế, COVID-19 là nguyên nhân làm tử vong thứ ba ở Mỹ vào năm 2020 sau bệnh tim và ung thƣ, với khoảng 375.000 trƣờng hợp tử vong đƣợc báo cáo(2). Ƣớc tính hiện tại của WHO về tỷ lệ trƣờng hợp tử vong trên toàn cầu đối với COVID-19 là 2,2%. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong trong trƣờng hợp này bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố bao gồm tuổi tác, các tình trạng sức khỏe, mức độ nghiêm trọng của bệnh tật và có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia(2). Tại Việt Nam tính đến ngày 25 tháng 11 năm 2021 đã có 1.228 ca nhiễm trong đó có 942.888 trƣờng hợp đã đƣợc chữa trị khỏi và 24.407 trƣờng hợp tử vong(3).
Tỉ lệ tử vong gia tăng nhanh chóng thì việc tiêm phòng vắc-xin đang đƣợc triển khai nhanh hiện đƣợc cho là phƣơng pháp chủ yếu nhằm hạn chế mức độ ảnh hƣỏng của dịch bệnh. Tiêm vắc-xin cho thấy giảm diễn biến nặng của bệnh và giảm tỷ lệ tử vong và làm giảm tải gánh nặng đối với hệ thống y tế(4). Trong theo dõi và điều trị bệnh COVID-19 thì các kết quả cận lâm sàng đóng vai trò hết sức quan trọng. Đặc biệt là xét nghiệm huyết học - đông máu giúp phát hiện các nguy cơ tiềm ẩn, đánh giá quá trình viêm, rối loạn các cơ chế đông máu của bệnh nhân, hóa sinh - khí máu và một số xét nghiệm miễn dịch giúp đánh giá tình trạng của bệnh nhân đánh giá tình trạng tổn thƣơng của các cơ quan, đánh giá hiệu quả trong sử dụng thuốc, dự 2 đoán nguy cơ tiến triển của bệnh, giá trị Ct trong xét nghiệm PCR giúp theo dõi tình trạng nhiễm virus(5).
Điều này sẽ hỗ trợ việc phân tầng nguy cơ và sớm áp dụng các biện pháp điều trị có thể làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong liên quan đến COVID-19(6). Dựa vào kết quả xét nghiệm giúp bác sĩ điều trị phân loại mức độ nặng của bệnh nhân đồng thời điều chỉnh và sử dụng các loại thuốc điều trị phù hợp, hiệu quả nhất. Hiện tại chƣa có nhiều nghiên cứu đánh giá đƣợc công bố tại Việt Nam về các xét nghiệm trong quá trình điều trị bệnh nhân COVID-19. Nghiên cứu này có thể giúp đánh giá nguy cơ tử vong thông qua các kết quả xét nghiệm bất thƣờng, lựa chọn sử dụng các biện pháp điều trị phù hợp dựa theo độ tuổi, tình trạng tiêm phòng hoặc các kết quả của RT-PCR.
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là một trong nhiều cơ sở tiếp nhận và điều trị bệnh nhân COVID-19. Bộ Y tế đã ra quyết định số 3686/QĐ-BYT ngày 02/8/2021 về việc thành lập Bệnh viện điều trị ngƣời bệnh COVID-19 tại Hà Nội trực thuộc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tại phƣờng Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Bệnh viện điều trị ngƣời bệnh COVID-19 (gọi tắt là Bệnh viện điều trị COVID-19 - Y Hà Nội) với quy mô 500 giƣờng bệnh đƣợc xây dựng trên diện tích hơn 3,5 ha chính thức đi vào hoạt động từ ngày 31/8/2021. Bệnh viện hoạt động nhằm 02 mục tiêu, một là tuyến cuối trong bậc thang điều trị ngƣời bệnh COVID-19 tại khu vực thành phố Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc (bao gồm Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh và Lạng Sơn), Hai là thực hiện chức năng của trung tâm hồi sức tích cực COVID-19 quốc gia với nhiệm vụ cụ thể là tổ chức thu dung, cấp cứu, điều trị ngƣời bệnh COVID-19 nặng, nguy kịch (7).
Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Mối liên quan giữa một số đặc điểm cận lâm sàng và tình trạng tử vong ở bệnh nhân điều trị COVID-19 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2021” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả một số đặc điểm cận lâm sàng ở bệnh nhân điều trị COVID-19 điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 9/2021 đến tháng 02/2022. Phân tích mối liên quan giữa một số đặc điểm cận lâm sàng và tình trạng tử vong ở bệnh nhân COVID-19 điều trị tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2021. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đặc điểm về Coronavirus 1.1 Nguồn gốc của Coronavirus Coronavirus là tên gọi của một nhóm virus có khả năng lây nhiễm sang ngƣời và động vật hoang dã. Coronavirus đã gây ra hai đợt bùng phát với quy mô lớn trong hai thập kỷ qua bao gồm hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) năm 2003 và hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) năm 2012 đã gây thành dịch ở ngƣời. Vào tháng 12 năm 2019, một loạt ca viêm phổi do virus β-coronavirus mới đƣợc xác định đã xảy ra ở Vũ Hán, Trung Quốc. Loại coronavirus này, ban đầu đƣợc đặt tên là coronavirus mới 2019 (2019-nCoV) vào ngày 12 tháng 1 năm 2020 bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
WHO chính thức đặt tên cho căn bệnh này là bệnh do coronavirus 2019 (COVID-19). Nguồn gốc của COVID-19 đƣợc cho là bắt đầu từ một vài trƣờng hợp viêm phổi có liên quan đến chợ hải sản ở thành phố Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc. Sau khi phát hiện khả năng lây lan dịch bệnh từ động vật sang ngƣời, các nghiên cứu đã đƣợc thực hiện và chứng minh một loài Betacoronavirus mới có liên quan đến SAR-CoV là tác nhân chính. Bệnh nhân đầu tiên đƣợc phát hiện vào tháng 12 năm 2019 và nhanh chóng lây truyền từ ngƣời sang ngƣời và lây lan ra khắp thế giới (5).
SAR-CoV-2, loại virus gây ra COVID-19 là loại thứ bảy thuộc coronavirus đƣợc biết đến là có thể lây nhiễm sang cho ngƣời, trƣớc đó SAR-CoV, MERS-CoV và giờ là SAR-CoV-2 đƣợc chứng mình là có khả năng gây ra bệnh nặng còn HKU1, NL63, OC43 và 229E thì lại liên quan đến các ca bệnh có triệu chứng nhẹ (8).2 Cấu trúc của Virus SAR-CoV-2 Virus SAR-CoV-2 là một loại virus betacoronavirus hình cầu có đƣờng kính 60-140 nm và có các gai trên bề mặt với kích thƣớc từ 9 đến 12 nm (9). Là những virus đƣợc bao bọc bởi ARN sợi đơn không phân đoạn, có kích thƣớc bộ gen là 26- 32 Kilobase và đƣợc coi là bộ gen RNA lớn nhất đƣợc biết đến và đƣợc tổ chức 5 dƣới dạng trình tự -5’UTF1a/bS-ORF3-ORF6-ORF7a/ORF8-N/ORF9b-ORF10- 3’UTR- đuôi poly (Hình 1). Với bộ gen RNA sợi đơn SAR-CoV-2 có kích thƣớc 29891 nucleotide và mã hóa 9860 axit amin cùng với 38% là hàm lƣợng G + C. Bộ gen SAR-CoV-2 có chứa hai vùng không dịch mã (UTR) tƣơng tự nhƣ các βCoV khác và có một khung đọc mở duy nhất mã hóa một polyprotein.
SAR-CoV-2 đƣợc sắp xếp bộ gen theo thứ tự của các protein cấu trúc 5’-replicase(-ORF1/ab) [Spike (S)-Envelope (E)-Membrane (M) -Nucleocapsid (N)]-3’ nhƣng lại không có mặt gen hemagglutinin-esterase đặc trƣng giống nhƣ các dòng betacoronavirus khác. Vùng ORF1ab, bao gồm toàn bộ 2/3 bộ gen, sẽ mã hóa một polyprotein pp1ab lớn và đƣợc phân cắt theo protein thành 16 protein cấu trúc khác (Nsps) có vai trò quan trọng trong sự nhân lên của virus (10). Phân loại coronavirus ở người Coronavirus là một chi thuộc bộ Nidovirales họ Coronaviridae. Chi này đƣợc đặt tên theo tiếng latinh dựa theo hình dạng, cấu trúc của virus đƣợc quan sát dƣới kính hiển vi điện tử (11).
Coronavirus bao gồm Alpha (α), Beta (β), Gamma (γ) và delta (δ). Trong đó α- và β-CoV có thể lây truyền cho động vật có vú còn γ- và δ- CoV thì có xu hƣớng lây truyền cho chim. CoV có hai nhóm gồm những CoV gây bệnh phổ biến cho ngƣời gồm: HCoV-OC43 và HCoV-HKU1 ( là betaCoV của dòng A); HCoV-229E và HCoV-NL63 (alphaCoVs). Tuy là những loại virus này có khả năng gây ra các bệnh cảm lạnh thông thƣờng và nhiễm trùng đƣờng hô hấp trên ở những ngƣời có khả năng miễn dịch.
Nhƣng có thể gây nhiễm trùng đƣờng hô hấp dƣới ở những đối tƣợng suy giảm miễn dịch hoặc ngƣời cao tuổi. Những CoV khác nhƣ SARS-CoV và MERS-CoV (tƣơng ứng các beta-CoV thuộc dòng B và C). Những CoV này đƣợc biểu hiện bằng các triệu chứng hô hấp và ngoài hô hấp với các mức độ nghiêm trọng khác nhau và đƣợc chứng minh là có độc lực cao hơn và có thể diễn biến thành dịch (1). Virus SARS-CoV-2 cũng là một betaCoV nhƣng mới hơn thuộc cùng một chi con với coronavirus gây hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS-CoV) và Coronavirus hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS- 6 CoV) (10).
Các biến thể của SAR-CoV-2 đã đƣợc mô tả và chia làm hai loại dƣới đây. Biến thể đáng lo ngại (VOC) Biến thể đáng lo ngại (VOC) là các biến thể gây tăng cƣờng khả năng lây truyền hoặc độc lực, giảm khả năng trung hòa bởi các kháng thể thu đƣợc thông qua nhiễm trùng tự nhiên hoặc tiêm chủng, có khả năng trốn tránh sự phát hiện, hoặc giảm hiệu quả điều trị hoặc tiêm chủng. Đến ngày 11 tháng 12 năm 2021 WHO đã cập nhật dịch tễ học 5 loại biến thể đáng lo ngại của SAR-CoV-2 gồm: Alpha ( -B.7) xuất hiện lần đầu ở nƣớc Anh vào tháng 12 năm 2020. Số lƣợng đột biến trong bộ gen của biến thể B.
Trong đó, tám đột biến mất đoạn trên protein S bao gồm Δ69-70; Δ144; N501Y; A570D; P681H; T716I; S982A và D1118H. Đột biến N501Y cho thấy tăng ái lực với thụ thể ACE 2, đồng thời tăng cƣờng sự gắn kết của virus và sự xâm nhập vào tế bào vật chủ. Nó đƣợc chứng minh khả năng lây truyền cao hơn 43% đến 82% so với các biến thể trƣớc đó. Mặc dù ban đầu các nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về nguy cơ nhập viện hay tử vong giữa các biến thể của SAR-CoV-2 tuy nhiên các nghiên cứu sau đó đã đƣợc báo cáo là ngƣời bị nhiễm biến thể dòng B.7 có mức độ nghiêm trọng hơn so với dạng biến thể khác (12).351) đƣợc báo cáo sự xuất hiện lần đầu tại Nam Phi vào tháng 12 năm 2020.