Tỉ lệ loãng xương và mối liên quan giữa mật độ xương nguy cơ gãy xương với hội chứng chuyển hóa ở người cao tuổi

Chuyên khảo phân tích Tỉ lệ loãng xương và mối liên quan giữa mật độ xương nguy cơ gãy xương với hội chứng chuyển hóa ở, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Nội Khoa (Lão Khoa)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2021

134
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Loãng xương

1.2. Dịch tễ học

1.3. Cơ chế bệnh sinh

1.4. Yếu tố nguy cơ

1.5. Các mô hình dự báo nguy cơ gãy xương

1.5.1. Mô hình FRAX

1.5.2. Mô hình Garvan

1.6. Hội chứng chuyển hóa

1.6.1. Dịch tễ học

1.6.2. Cơ chế bệnh sinh và yếu tố nguy cơ

1.6.3. Hội chứng chuyển hóa và loãng xương, nguy cơ gãy xương

1.6.3.1. Cơ chế bệnh sinh

1.7. Nghiên cứu mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa với loãng xương

1.8. Nghiên cứu mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và nguy cơ gãy xương theo mô hình FRAX

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Dân số mục tiêu

2.3. Dân số chọn mẫu

2.4. Tiêu chuẩn nhận vào

2.5. Tiêu chuẩn loại trừ

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Kỹ thuật chọn mẫu

2.8. Phương pháp thu thập số liệu

2.8.1. Chọn đối tượng, hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng

2.8.2. Các xét nghiệm sinh hóa

2.8.3. Đánh giá nguy cơ gãy xương theo mô hình FRAX

2.9. Các biến số nghiên cứu

2.9.1. Định nghĩa các biến số nghiên cứu

2.10. Kiểm soát sai lệch số liệu

2.11. Quản lý và xử lý số liệu

2.11.1. Quản lý số liệu

2.11.2. Xử lý số liệu

2.12. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm của dân số nghiên cứu

3.2. Đặc điểm nhân khẩu – xã hội, nhân trắc

3.3. Đặc điểm các yếu tố nguy cơ loãng xương

3.4. Đặc điểm hội chứng chuyển hóa và các thành tố của chúng

3.5. Đặc điểm mật độ xương và nguy cơ gãy xương

3.6. Tỉ lệ loãng xương ở bệnh nhân có và không có hội chứng chuyển hóa

3.7. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa với loãng xương

3.8. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và các thành tố hội chứng chuyển hóa với loãng xương

3.9. Mối liên quan giữa các yếu tố khác với loãng xương

3.10. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và loãng xương xét trong mối liên quan với các yếu tố khác ở nữ giới

3.11. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và loãng xương xét trong mối liên quan với các yếu tố khác ở nam giới

3.12. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa với nguy cơ gãy xương theo mô hình FRAX

3.13. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và các thành tố hội chứng chuyển hóa với nguy cơ gãy xương cao theo mô hình FRAX

3.14. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và các thành tố hội chứng chuyển hóa với nguy cơ gãy cổ xương đùi và nguy cơ gãy xương chính theo mô hình FRAX

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm dân số nghiên cứu

4.2. Đặc điểm nhân khẩu – xã hội, nhân trắc

4.3. Đặc điểm các yếu tố nguy cơ loãng xương

4.4. Đặc điểm các thành tố của hội chứng chuyển hóa

4.5. Đặc điểm mật độ xương và nguy cơ gãy xương

4.6. Tỉ lệ loãng xương ở nhóm có và không có hội chứng chuyển hóa

4.7. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa, các yếu tố nguy cơ khác với loãng xương

4.8. Mối liên quan giữa các đặc điểm nhân trắc, nhân khẩu học, hội chứng lão hóa với loãng xương

4.9. Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ loãng xương với loãng xương

4.10. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và các thành tố hội chứng chuyển hóa với loãng xương

4.11. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và nguy cơ gãy xương theo mô hình FRAX

4.12. Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa với nguy cơ gãy xương

4.13. Mối liên quan giữa các thành tố hội chứng chuyển hóa với nguy cơ gãy xương

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. phiếu thu thập số liệu

Phụ lục 2. bản thông tin dành cho người tham gia và chấp thuận tham gia nghiên cứu

Phụ lục 3. đánh giá nguy cơ gãy xương theo mô hình FRAX

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mối Liên Quan Giữa Loãng Xương và Hội Chứng Chuyển Hóa

Mối liên quan giữa loãng xươnghội chứng chuyển hóangười cao tuổi đang trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Loãng xương là tình trạng giảm mật độ xương, làm tăng nguy cơ gãy xương, trong khi hội chứng chuyển hóa liên quan đến nhiều yếu tố nguy cơ như béo phì, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu. Nghiên cứu cho thấy rằng sự đồng mắc giữa hai tình trạng này có thể làm gia tăng nguy cơ gãy xương và giảm chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

1.1. Định Nghĩa và Dịch Tễ Học Của Loãng Xương

Loãng xương được định nghĩa là tình trạng giảm khối lượng xương, dẫn đến tăng nguy cơ gãy xương. Theo thống kê, tỉ lệ loãng xương ở người cao tuổi tại Việt Nam lên đến 43,6%, trong đó nữ giới cao tuổi có tỉ lệ cao hơn đáng kể.

1.2. Hội Chứng Chuyển Hóa Đặc Điểm và Tác Động

Hội chứng chuyển hóa là một tập hợp các yếu tố nguy cơ như béo phì, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu. Tại Việt Nam, tỉ lệ hội chứng chuyển hóa ở người cao tuổi là 38,1%, cho thấy sự gia tăng đáng kể trong nhóm dân số này.

II. Vấn Đề và Thách Thức Liên Quan Đến Loãng Xương và Hội Chứng Chuyển Hóa

Sự gia tăng tỉ lệ loãng xươnghội chứng chuyển hóangười cao tuổi đang đặt ra nhiều thách thức cho hệ thống y tế. Các vấn đề như chẩn đoán sớm, điều trị hiệu quả và quản lý bệnh nhân là rất cần thiết. Việc đồng mắc hai tình trạng này không chỉ làm tăng nguy cơ gãy xương mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

2.1. Nguy Cơ Gãy Xương Tăng Cao Ở Người Cao Tuổi

Nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi có thể tăng gấp ba lần nếu họ mắc hội chứng chuyển hóa. Điều này đòi hỏi các bác sĩ cần có những biện pháp can thiệp kịp thời để giảm thiểu nguy cơ này.

2.2. Khó Khăn Trong Chẩn Đoán và Điều Trị

Việc chẩn đoán đồng thời hai tình trạng này có thể gặp khó khăn do triệu chứng không rõ ràng. Điều này dẫn đến việc điều trị không hiệu quả và tăng chi phí y tế cho bệnh nhân.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Mối Liên Quan Giữa Loãng Xương và Hội Chứng Chuyển Hóa

Nghiên cứu mối liên quan giữa loãng xươnghội chứng chuyển hóa thường sử dụng các mô hình như FRAX để đánh giá nguy cơ gãy xương. Các phương pháp này giúp xác định mối liên hệ giữa mật độ xương và các yếu tố nguy cơ khác, từ đó đưa ra các giải pháp điều trị hiệu quả.

3.1. Mô Hình FRAX Trong Đánh Giá Nguy Cơ Gãy Xương

Mô hình FRAX là công cụ hữu ích trong việc đánh giá nguy cơ gãy xương trong vòng 10 năm. Nó xem xét nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, và mật độ xương để đưa ra dự đoán chính xác.

3.2. Các Biện Pháp Can Thiệp Hiệu Quả

Các biện pháp can thiệp như bổ sung canxi và vitamin D, cùng với việc khuyến khích tập thể dục, có thể giúp cải thiện mật độ xương và giảm nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Về Loãng Xương và Hội Chứng Chuyển Hóa

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa loãng xươnghội chứng chuyển hóangười cao tuổi. Việc nhận diện sớm và điều trị đồng thời hai tình trạng này có thể cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm thiểu nguy cơ gãy xương.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Tại Việt Nam

Nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ loãng xương ở người cao tuổi có hội chứng chuyển hóa cao hơn so với nhóm không có hội chứng này.

4.2. Ứng Dụng Các Mô Hình Dự Đoán Trong Thực Tiễn

Việc áp dụng các mô hình dự đoán như FRAX trong thực tiễn lâm sàng giúp bác sĩ có cái nhìn tổng quan về nguy cơ gãy xương, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Loãng Xương và Hội Chứng Chuyển Hóa

Mối liên quan giữa loãng xươnghội chứng chuyển hóangười cao tuổi cần được nghiên cứu sâu hơn để có những giải pháp điều trị hiệu quả. Tương lai của nghiên cứu này sẽ giúp cải thiện sức khỏe cho người cao tuổi và giảm thiểu gánh nặng cho hệ thống y tế.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Liên Ngành

Nghiên cứu liên ngành giữa các chuyên khoa như nội khoa, dinh dưỡng và thể dục thể thao sẽ giúp phát triển các chương trình can thiệp hiệu quả cho người cao tuổi.

5.2. Định Hướng Nghiên Cứu Trong Tương Lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ khác và tình trạng loãng xương, từ đó xây dựng các hướng dẫn điều trị phù hợp cho người cao tuổi.

09/07/2025
Tỉ lệ loãng xương và mối liên quan giữa mật độ xương nguy cơ gãy xương với hội chứng chuyển hóa ở người cao tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Loãng xương (LX) là một bệnh lý xương chuyển hóa được đặc trưng bởi giảm khối lượng và hư hại cấu trúc xương, dẫn đến tăng nguy cơ gãy xương (NCGX) [68]. Tuổi thọ con người ngày càng gia tăng dẫn đến tỉ lệ LX cũng tăng dần, đặc biệt ở người cao tuổi (NCT). Theo thống kê ở Mỹ vào năm 2010, có khoảng 10,2 triệu NCT bị LX và dự tính đến năm 2020, con số này vào khoảng 14 triệu NCT [112]. Ở Việt Nam, nghiên cứu (NC) của tác giả Trần Thị Thanh Tú thực hiện vào năm 2020 ghi nhận tỉ lệ LX ở NCT còn khá cao.

Cụ thể, tỉ lệ LX ở NCT là 43,6%, trong đó ở nữ giới cao tuổi là 45,2% và ở nam giới cao tuổi là 26,3% [6]. Gãy xương là hậu quả nghiêm trọng nhất của LX, làm gia tăng tỉ lệ tử vong, giảm chất lượng cuộc sống và tăng chi phí điều trị [38]. Có nhiều mô hình đã được NC và sử dụng trong thực hành lâm sàng để dự đoán NCGX như mô hình FRAX của Tổ chức y tế thế giới và mô hình Garvan của viện nghiên cứu Garvan Úc. Các công cụ này đánh giá NCGX không chỉ dựa vào mật độ xương (MĐX) mà còn sử dụng nhiều yếu tố khác, giúp dự đoán chính xác hơn NCGX trong vòng 5-10 năm.

Hội chứng chuyển hóa (HCCH) cũng là một vấn đề sức khỏe đáng lo ngại vì tỉ lệ ngày càng gia tăng, đặc biệt ở NCT. NC tại Mỹ cho thấy tỉ lệ HCCH ở người trưởng thành tăng từ 25,3% đến 34,2% trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến 2012, như vậy có đến 1/3 người Mỹ trưởng thành có HCCH [79]. Ở Việt Nam, NC của tác giả Hồ Thị Kim Thanh ghi nhận tỉ lệ HCCH ở NCT là 38,1%, trong đó ở nữ giới cao tuổi là 45% và ở nam giới cao tuổi là 26,6% [9]. HCCH là yếu tố nguy cơ làm gia tăng các biến cố tim mạch như đột quỵ, bệnh mạch vành và làm tăng tỉ lệ xuất hiện đái tháo đường típ 2.

Như vậy, LX, NCGX và HCCH là những vấn đề thường gặp ở NCT, đồng mắc các vấn đề này làm gia tăng tỉ lệ tàn phế, gánh nặng kinh tế và khó khăn trong điều trị. Vì vậy, việc nhận biết những tình trạng bệnh phối hợp như thế này là cần thiết. Trong những năm gần đây, mối liên quan giữa LX, NCGX với HCCH đã. 2 được chú trọng.

Một số NC cho thấy HCCH làm tăng nguy cơ LX và giảm MĐX [11], [75], [80]. Tuy nhiên, một số NC khác ghi nhận HCCH có thể làm giảm nguy cơ LX và tăng MĐX [75], [86]. Trên phương diện HCCH và NCGX, NC của tác giả Chia-Ying Yu (2017) tại Đài Loan cho thấy nữ giới có HCCH làm tăng tỉ lệ NCGX cao theo mô hình tiên đoán FRAX [117]. Tuy nhiên, NC của tác giả Hyun Joo Lee (2019) thực hiện tại Hàn Quốc lại không ghi nhận mối liên quan này.

Như vậy, kết quả của các NC khảo sát mối liên quan giữa LX, NCGX với HCCH còn chưa thống nhất, có thể do sự khác biệt về chủng tộc và ảnh hưởng khác nhau của giới tính. Ngoài ra, chưa có NC nào thực hiện riêng trên dân số NCT mặc dù đây là các vấn đề này khá thường gặp trên đối tượng này. Tại Việt Nam, dữ liệu về mối liên quan giữa LX với HCCH còn hạn chế và NC cũng không khảo sát riêng trên đối tượng NCT [11]. Ngoài ra, chưa ghi nhận NC nào ở Việt Nam đánh giá mối liên quan giữa NCGX dựa trên các mô hình tiên đoán với HCCH.

Như vậy, trên dân số NCT ở Việt Nam, có mối liên quan giữa LX và NCGX dựa trên mô hình tiên đoán với HCCH hay không? Trả lời được cho câu hỏi này sẽ đóng góp thêm vào dữ liệu dịch tễ học, giúp ích trong phòng ngừa và quản lý bệnh nhân (BN) một cách toàn diện, đặc biệt ở NCT. Do đó, chúng tôi thực hiện NC này nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi “có hay không mối liên quan giữa LX và NCGX với HCCH ở NCT?”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Khảo sát tỉ lệ loãng xương và mối liên quan giữa loãng xương với hội chứng chuyển hóa ở người cao tuổi tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

Khảo sát mối liên quan giữa nguy cơ gãy xương trong vòng 10 năm theo mô hình FRAX với hội chứng chuyển hóa ở người cao tuổi tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Loãng xƣơng 1. Định nghĩa Theo định nghĩa tại Hội nghị phát triển đồng thuận về LX năm 2001, LX là một bệnh rối loạn chuyển hóa của bộ xương làm suy giảm sức mạnh xương và tăng NCGX [60].

Sức mạnh của xương được phản ánh qua hai yếu tố: khối lượng xương (bone mineral density) và chất lượng xương (bone quality). Khối lượng xương được đánh giá thông qua việc đo MĐX và hiện nay đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán LX. Trong khi đó, chất lượng xương là tổng hợp những yếu tố liên quan đến cấu trúc của xương, quá trình chu chuyển xương, độ khoáng hóa, đặc điểm chất nền và chất khoáng của xương. Tuy nhiên, chưa có một biện pháp nào đủ khả thi và toàn diện để đo lường chính xác chất lượng xương [60].

Xương bình thường LX Hình 1. Hình ảnh học vi thể của xương bình thường và xương bị LX Nguồn: Cosman F [36]. Dịch tễ học LX là bệnh lý xương chuyển hóa thường gặp nhất, ảnh hưởng gần 200 triệu người trên toàn thế giới [95]. Tỉ lệ LX gia tăng theo tuổi ở cả nam và nữ, do đó NCT có tỉ lệ LX cao hơn ở người trẻ [58].

Ở Mỹ, gần 10,2 triệu NCT bị LX và dự tính đến năm 2020 sẽ có gần 14 triệu NCT bị LX [112]. Trong đó, tỉ lệ LX ở nam và nữ cao tuổi tương ứng là 5,6% và 24,8%. Tại Việt Nam, một NC thực hiện trên 424. 5 nam giới từ 60 tuổi trở lên và 988 nữ giới từ 50 tuổi trở lên từ 12/2011 – 10/2014 cho thấy tỷ lệ LX của nam chiếm 35,6%, trong khi đó ở nữ tỉ lệ này lên đến 58,4% [6].

NC của tác giả Trần Thị Thanh Tú (2020) tại Phòng khám Nội cơ xương khớp và phòng khám Nội tổng quát Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy tỉ lệ LX ở NCT là 43,6%. Trong đó tỉ lệ LX ở nam và nữ giới cao tuổi lần lượt là 26,3% và 45,2% [12]. Gãy xương là hệ quả nghiêm trọng nhất của LX bởi vì gãy xương làm giảm chất lượng cuộc sống người bệnh, tăng nguy cơ tàn tật, tăng tỉ lệ tử vong và gia tăng chi phí điều trị. Các NC trên người ≥ 50 tuổi cho thấy cứ 3 nữ giới thì có 1 người gãy xương do LX và cứ 5 nam giới thì có 1 người bị gãy xương do LX [61].

Nguy cơ trọn đời gãy xương do LX ở nam giới trên 50 tuổi lên đến 27% và ước tính cao hơn nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt. Trong khi đó, nguy cơ gãy CXĐ ở nữ giới thì tương đương với nguy cơ ung thư vú [35]. Về mức độ tàn tật, trên 50% BN gãy cổ xương đùi (CXĐ) không thể sinh hoạt độc lập và cần hỗ trợ chăm sóc tại nhà kéo dài. Ở Mỹ, chi phí y tế liên quan đến gãy xương do LX là khoảng 57 tỷ USD vào năm 2018 và dự đoán sẽ lên đến 95 tỷ USD vào năm 2040 [38].

Cơ chế bệnh sinh Xương bao gồm lớp vỏ xương (xương đặc) bên ngoài với mật độ khoáng cao và lớp bè xương (xương xốp) bên trong có hình dạng giống như tổ ong ba chiều giúp nâng đỡ cơ học tối đa hệ thống cơ xương khớp. Có hai loại tế bào xương chính là tạo cốt bào (osteoblast) và hủy cốt bào (osteoclast), đóng vai trò quan trọng trong điều hòa hoạt động tạo xương và hủy xương của cơ thể. Nhìn chung, xương chứa các thành phần chính như protein (chiếm 30% mô xương) và các chất khoáng (70% mô xương). Collagen chiếm 90% protein của mô xương, chúng đan chéo vào nhau tạo thành các mạng lưới chắc, giúp xương chịu được các lực tác động vào.

Trong khi đó, thành phần khoáng như những nút thắt đan vào mạng lưới collagen, trong đó chủ yếu chứa canxi, phospho và magie [10]. 6 Chu chuyển xương là một chu trình xảy ra liên tục gồm quá trình tạo xương và quá trình hủy xương diễn ra theo cơ chế thay xương cũ bằng xương mới. Quá trình chu chuyển xương diễn ra khoảng 3-6 tháng, tuy nhiên chu chuyển xương thường xảy ra nhanh hơn ở trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên. Hầu hết quá trình sửa chữa và thay mới xảy ra ở lớp bè xương, đây là cấu trúc chính của xương (chiếm 2/3 xương đốt sống và 1/2 xương dài).

Chính điều này xây dựng cấu trúc vi thể bên trong của xương vững chắc giúp thích nghi tốt với lực cơ học tác động bên trong lẫn bên ngoài vào hệ xương. Toàn bộ hệ xương ở người trưởng thành sẽ được thay mới trong khoảng 7-10 năm và hai quá trình tạo xương và hủy xương được duy trì cân bằng cho đến khoảng 40 tuổi, sau đó hủy cốt bào sẽ hoạt động mạnh hơn. Ở NCT, quá trình hủy xương vượt trội hơn so với quá trình tạo xương dẫn đến tăng dần các vị trí hủy xương làm thay đổi cấu trúc vi thể của các bè xương như tạo các điểm xương yếu và các điểm vi gãy (microfracture). Chính điều này làm giảm khối lượng xương theo thời gian đặc biệt ở giai đoạn mãn kinh gây nên tình trạng LX [10].

Yếu tố nguy cơ Tuổi: khối lượng xương của một người trưởng thành sẽ đạt đỉnh vào thập kỉ thứ ba của mỗi người. Khi càng lớn tuổi, khối lượng xương sẽ giảm dần theo thời gian, do vậy tuổi càng cao nguy cơ LX càng lớn [58]. Các NC ghi nhận MĐX vùng CXĐ sẽ giảm 0,04 - 0,9% mỗi năm [51]. Giới: các NC chỉ ra rằng nữ là một yếu tố nguy cơ của LX.

Ở Mỹ ghi nhận đến 20% nữ giới trên 60 tuổi bị LX và con số này ở nam giới cùng độ tuổi là 5% [112]. Ở Việt Nam, kết quả tương tự khi NC trên NCT với tỉ lệ LX ở nữ giới cao gấp 3 – 4 lần so với nam giới [55]. Trọng lượng cơ thể thấp: các NC chỉ ra rằng béo phì là yếu tố bảo vệ cho xương, chống lại việc mất xương quá mức. BN với trọng lượng cơ thể thấp có nguy cơ LX gấp 2,7 lần so với người có trọng lượng cơ thể trung bình [2].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ