Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm về bú sớm sau sinh, nuôi con bằng sữa mẹ và dự định NCBSMHT. Nuôi con bằng sữa mẹ là một biện pháp tối ưu nhằm đảm bảo cho sự phát triển tốt của trẻ cũng như có lợi cho sức khỏe người mẹ. WHO và UNICEF đã khuyến cáo nên cho trẻ bú sớm trong vòng 30 phút đến 1 giờ sau khi sinh, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ ăn bổ sung từ 6 tháng tuổi và tiếp tục NCBSM đến 2 tuổi hoặc lâu hơn [49],[52].
Một số khái niệm thống nhất về việc nuôi dưỡng trẻ bằng sữa mẹ đã được WHO, UNICEF và đại diện một số tổ chức quốc tế đưa ra như sau: Cho trẻ bú sớm sau sinh: là việc trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh. Sữa non: Là sữa đầu tiên được tiết ra từ lúc sinh đến ngày thứ 2-3 sau đẻ có màu vàng, kết cấu keo dính và chứa nhiều kháng thể. Sữa chuyển tiếp: Là sữa có từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 15 sau đẻ. Sữa ổn định: Là sữa bắt đầu có từ ngày thứ 15 và tiếp tục được tiết ra ổn định cho đến khi cai sữa [52].
Cai sữa: Là sự chuyển giao vai trò cung cấp năng lượng từ sữa mẹ tới vai trò của các thực phẩm trong bữa ăn gia đình để kết thúc thời kỳ bú mẹ [29]. Nuôi con bằng sữa mẹ: Là cách nuôi dưỡng trong đó trẻ trực tiếp bú sữa mẹ hoặc được nuôi bằng sữa mẹ được vắt ra. Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: Trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, không được ăn thêm bất cứ thức ăn nước uống nào khác, kể cả nước lọc (trừ vitamin, vắc xin và các thứ thuốc cần thiết khác). Bú mẹ chủ yếu: Là cách nuôi dưỡng trong đó nguồn dinh dưỡng chính là sữa mẹ, tuy nhiên trẻ có thể nhận được thêm nước uống đơn thuần hoặc một số dung dịch dinh dưỡng như nước đường hoặc các loại thức ăn lỏng cổ truyền với số lượng ít.
Nuôi con bằng sữa bình: Cho trẻ bú bằng bình sữa, bất kể sữa gì trong bình kể cả sữa mẹ đã vắt ra cho vào bình [51]. Dự định là một dấu hiệu của sự sẵn sàng để thực hiện một hành vi nhất định của một người, và nó được coi là tiền đề trực tiếp của hành vi. Dự định dựa trên thái độ hướng đến hành vi, chuẩn mực chủ quan, và nhận thức về kiểm soát hành vi [19]. Dự định NCBSMHT trong 6 5 tháng đầu là sự sẵn sàng, quyết tâm của một người phụ nữ mang thai để thực hiện hành vi cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau khi sinh [19],[42].
Cơ sở khoa học của việc bú sớm sau sinh và nuôi con bằng sữa mẹ Sữa mẹ là một dịch thể sinh học chứa nhiều yếu tố quan trọng bảo vệ cơ thể mà không một thức ăn nào có thể thay thế được [52]. Giá trị dinh dưỡng của sữa mẹ Trong sữa mẹ có đủ các chất dinh dưỡng như protein, glucid, lipit, vitamin và khoáng chất đủ cho trẻ phát triển trong 6 tháng đầu. Các chất dinh dưỡng đó lại ở tỷ lệ thích hợp và dễ hấp thu đáp ứng với sự phát triển nhanh của trẻ [52]. Sữa mẹ là thức ăn duy nhất mà trẻ nhỏ cần trong khoảng 6 tháng đầu đời.
Sữa mẹ luân tự nhiên, tinh khiết, sạch sẽ và có nhiệt độ thích hợp. Sữa mẹ thay đổi theo thời gian nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng thay đổi của trẻ. Sữa mẹ giúp bảo vệ cho trẻ khỏi bị bệnh tật, dị ứng, béo phì và các chứng bệnh khác [3]. Protein, glucid, lipid Thành phần protein trong sữa mẹ tuy có ít hơn sữa động vật nhưng lại có đủ các acid amin cần thiết với tỷ lệ cân đối đồng thời lại dễ hấp thu.
Protein của sữa mẹ gồm cacein kết cấu mềm, dễ hấp thu hơn so với sữa động vật [48]. Lipid trong sữa mẹ có nhiều acid chuỗi dài, không no cần thiết dễ hấp thu và nhiều acid béo mà vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển hệ thần kinh ở trẻ như DHA và AR, không có ở sữa động vật. Với hàm lượng 5,5g/100ml, lipid cung cấp một nửa lượng calo cho trẻ bú mẹ. Glucid trong sữa mẹ chủ yếu là đường lactose, hàm lượng 7g/10ml.
Vitamin và muối khoáng Vitamin trong sữa mẹ đủ để cung cấp cho trẻ trong 4-6 tháng đầu khi bà mẹ được ăn uống đầy đủ. Ngoại trừ vitamin D là vitamin mà cơ thể tự tổng hợp khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Lượng sắt và kẽm trong sữa mẹ tuy ít nhưng có hoạt tính cao, dễ hấp thu nên vẫn thỏa mãn nhu cầu của trẻ. Tỷ lệ ca/p cân đối nên trẻ được nuôi bằng sữa mẹ ít bị còi xương và thiếu máu hơn những trẻ nuôi bằng sữa bò [52].
Các yếu tố miễn dịch trong sữa mẹ Trong sữa mẹ có nhiều yếu tố quan trọng có vai trò bảo vệ cơ thể mà trong sữa bò và các loại sữa khác không có được. Trong đó có hai yếu tố chính là: Glubulin miễn dịch: Chủ yếu là IgA chống lại các bệnh đường ruột. Bạch cầu giúp cho trẻ chống lại các bệnh do vi sinh vật gây ra như vi khuẩn, virut, nấm, v. Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi dưỡng hợp lý trong những năm đầu tiên, đặc biệt là những tháng đầu tiên sau sinh có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự sống còn, lớn lên và phát triển toàn diện của trẻ ở độ tuổi trưởng thành.
Nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp tự nhiên, an toàn, kinh tế và hiệu quả để bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em. Do thành phần và tính chất ưu việt như vậy nên NCBSM là biện pháp dinh dưỡng tối ưu cho trẻ [3],[52]. Trẻ bú sữa mẹ sẽ chóng lớn, phát triển đầy đủ về thể lực cũng như trí tuệ sau này [16]. Các chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng: Ngày 22/02/2001, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 21/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2001 – 2010, trong đó có mục tiêu nâng cao kiến thức, thực hành của người dân về dinh dưỡng hợp lý với mong muốn tăng tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành dinh dưỡng đúng cho trẻ ốm từ 20,2% năm 2000 lên 40% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010; tăng tỷ lệ bà mẹ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn 4 tháng đầu từ 31,1% năm 2000 lên 45% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010; tỷ lệ nữ thanh niên được huấn luyện về dinh dưỡng và kiến thức làm mẹ đạt 25% vào năm 2005 và 40% vào năm 2010; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và bà mẹ [7].
Ngày 27/12/2006, Căn cứ quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định phê duyệt Kế hoạch hành động nuôi dưỡng trẻ nhỏ giai đoạn 2006 – 2010, trong đó mục tiêu tăng tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 7 tháng đầu từ 12,5% năm 2005 lên 25% năm 2010; tỷ lệ trẻ được bú sớm sau sinh (trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh) tăng lên 90% vào năm 2010 [1]. Sau 10 năm thực hiện chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng đã đạt được những kết quả nhất định, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành dinh dưỡng đúng cho trẻ ốm tăng từ 44,5% năm 2005 lên 67% vào năm 2009, tỷ lệ nữ thanh niên được huấn luyện về dinh dưỡng và kiến thức làm mẹ đạt 28% vào năm 2005 và 44% vào năm 2010; đạt chỉ tiêu Chiến lược đề ra. Tuy nhiên, tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ còn thấp (trong 4 tháng là 29,3%; 6 tháng là 19,6%), mặc dù tỷ lệ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ đạt 93%, chưa đạt chỉ tiêu chiến lược đề ra [14] Ngày 22/02/2012, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ra quyết định số 226/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; trong đó với mục tiêu nâng cao hiểu biết và tăng cường thực hành dinh dưỡng hợp lý thì mong muốn tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đạt 27% vào năm 2015 và đạt 35% vào năm 2020; tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành dinh dưỡng đúng đối với trẻ ốm đạt 75% vào năm 2015 và 85% vào năm 2020; tỷ lệ nữ thanh niên được huấn luyện về dinh dưỡng và kiến thức cơ bản về làm mẹ đạt 60% vào năm 2015 và 75% vào năm 2020 [8]. Bên cạnh đó, năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 21/2006/NĐ-CP về việc cấm quảng cáo các loại sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi nhằm mục đích giảm tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn sớm trước 6 tháng tuổi [2].
Mặt khác, với việc thông qua chế độ nghỉ thai sản 6 tháng của Quốc hội gần đây cho thấy, Chính phủ Việt Nam đang tăng cường nỗ lực trong việc nâng cao tỷ lệ trẻ dưới 2 tuổi được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, từ đó đạt được mục tiêu Chiến lược Quốc gia về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhỏ, qua đó thực hiện tốt các mục tiêu thiên niên kỷ về bà mẹ và trẻ em. Thực trạng về nuôi con bằng sữa mẹ 1. Trên thế giới Trong mỗi gia đình, với mỗi cặp vợ chồng, người cha/người chồng luôn đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ đơn thuần là người mang lại thu nhập chính, họ còn tích cực tham gia vào công việc gia đình và chăm sóc các thành viên khác, đặc biệt là các bà mẹ mang thai và trẻ nhỏ. Các nghiên cứu gần đây đã cung cấp bằng chứng về mối liên quan giữa vai trò của người cha/người chồng trong gia đình, với thực hành chăm sóc cũng như tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhỏ.
Theo báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2009 của UNICEF cho thấy, chỉ có 38% trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn; 55% trẻ từ 6 – 9 tháng tuổi và 50% trẻ từ 20 – 23 tháng tuổi được tiếp tục cho bú sữa mẹ. Trong đó, tỷ lệ trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn ở các nước đang phát triển là 39% và tỷ lệ này ở nhóm nước kém phát triển là 37%. Tương tự, tỷ lệ trẻ được tiếp tục cho bú sữa mẹ cho đến 24 tháng tuổi ở các nước đang phát triển là 51% và tỷ lệ này trong nhóm nước kém phát triển là 64% [3].