CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU Bệnh tăng huyết áp đã xuất hiện trên trái đất của chúng ta lừ hơn m ột th ế k ỷ nay, nh ư trường hợp Mahomed đã từng phân biệt rõ bệnh tăng huyết áp khác với bệnh “Bright”, nhưng (tại thời điểm đó) những vấn đề mức độ HA này vần còn gây nhiều tranh cãi. B ệnh tăng huy ết áp không thể xác định thông thường như một bệnh lý được khu trú rõ ràng vì trước hết ranh giới giữa huyết áp bình thường và bệnh lý rất khó xác định. Con số huyết áp trong một quần thể của nhân dân theo Glorge pickering và điều tra về HA của tác giả Trần Đỗ Trinh và cs tiến hành nãm 1960 được phân bố theo một đường cong hình chuông liên tục không có ranh giới thật sự phân cách giữa con số THA. Trong đó có nhiều tác giả đã chứng minh rằng có sự liên quan giữa nhân trắc học với bệnh THA.
Định nghĩa huyết áp HA mà người ta thường gọi là áp lực máu trong động mạch hay được đo ở động mạch cánh tay. Thầy thuốc có thể đo huyết áp cả ở động mạch đùi, động mạch khoeo. khi cần thiết. Áp lực máu có trong động mạch là do tim co bóp đẩy máu từ thận trái vào hệ động mạch, đổng thời cũng do ảnh hưởng của lực cản thành động mạch [4].
Kêì quả là làm cho máu được lưu thông đến các tê bào đê cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu toàn cơ thể, khi tim co bóp tống máu. áp lực động mạch là lớn nhất gọi là HA tâm thu (HA tối đa). Khi tim nghi, áp lực đó ở mức thấp nhất gọi là HA tâm trương (HA tối thiếu) [18,19], 1. Định nghĩa tang huyết áp.
THA là điều kiện bất thường, khi áp lực máu vượt qua giới hạn chấp nhận (120/80). Hai số ấy tính theo khoảng cách milimét mà áp lực bên trong cơ thê mình đấy cột thuỷ ngân đi lên (ngày nay người ta dùng áp lực khí). Con sô trước (120 mmHg) nói lên áp lực tâm thu, con số sau (80 mmHg) nói lên áp lực tâm trương. Khi tăng huyết áp.
lực được sử dụng bởi sự va đập của máu vào thành động mạch ở trên mức được coi là bình thường. Cho tới gần đây, Viện máu, Phổi, Tim quốc gia (Mỹ) vẫn coi áp suất 160/95 là tâng huyết áp. và mức 140/90 là mức giáp ranh. 5 Nhưng phần ranh giới ấy không chính xác, vì bất kỳ sự gia tăng được duy trì liên tục, đều biểu thị chứng tăng huyết áp và cần lưu ý về vấn đề sức khoẻ [21].
Phân loại mức tâng huyết áp theo con sô HA của JNC VI, 1997 [10] Phân loại HA tâm trương Ap lực mạch đập HA tâm thư (mmHg) (mmHg) (mmHg) Tối ưu < 120 <80 <40 Bình thường < 130 <85 <45 Bình thường cao 130-139 85 - 89 <50 Tăng HA: - Độ 1 (nhẹ) 140- 159 90-99 <60 - Độ 2 (vừa) 160- 179 100 - 109 70 - Độ 3 (nặng) > 180 >110 70 1. Tại sao người ta bị tăng huyết áp Cho tới nay. mặc dù người ta đã nghiên cứu rất nhi ều song v ẫn ch ưa tìm th ấy đ ược nguyên nhân gây bệnh tăng huyết áp. Những hiếu biết v ề sinh lý b ệnh cho th ấy huy ết áp ch ịu ảnh hường của cung lượng tim và sức cản của các tiếu động mạch ở các khu vực như ở các cơ, các phủ tạng.
Cung lượng tim giảm như khi bị chảy máu dạ dày thì huyết áp thấp, có khi làm cho truy mạch, mất huyết áp. Cung lượng tim tăng thì huyết áp tăng. S ức c ản cùa ti ểu đ ộng m ạch giảm do có giãn mạch thì huyết áp hạ, sức cản đó tăng co mạch ngoại vi nhiều thì tăng huyết áp. Người ta cũng đã thấy có một số yếu tố tác động nhiều đến cung lượng lim và sức cản ngoại vi với hậu quả là làm tăng huyết áp [21 ].
Những thay đổi sinh lý của huyết áp Ó người bình thường không phái lúc nào HA cũng ổn đ ịnh. Huy ết áp luôn thay đ ổi tùy thuộc vào nhiều yếu tô' trong nhiều thời gian nhất định. Đó là sự thay đổi sinh lý của HA. - Huyết áp thay đổi theo thời tiết: Khi trời lạnh, mạch máu ngo ại vi co l ại đê làm giám sự thải nhiệt, giữ nhiệt cho cơ thể, HA tăng lên.
ngược lại khi trời nắng 6 nóng, mạch máu ngoại vi giãn ra nhằm tãng sự thải nhiệt đế diều hoà nhiệt độ cho cơ thể thì huyết áp lại hạ xuống. - Huyết áp thay đổi theo thời gian: Trong một ngày huyết áp bình thường giám hay tăng theo thời gian. Điều đó ghi nhận được nhờ một máy đo huy ết áp. G ần sáng, huy ết áp tăng d ần lên, khi thức dậy, tim làm việc mạnh hơn và huyết áp tăng hơn.
Trong ngày, HA dao đông nhẹ và táng cao khoảng 9-12 giờ trưa và cuối buổi chiều. Đêm, huyết áp l ại h ạ xu ống th ấp nh ất vào khoảng 3 giờ sáng [4]. - Huyết áp thay đổi theo tuổi: tuổi càng cao, hệ thống đ ộng m ạch càng b ị x ơ c ứng nhiều, sự co giãn đàn hồi của thành động mạch càng kém đi, lòng động mạch cũng bị hẹp hơn, vì vậy dễ bị bệnh tăng huyết áp nhiều hơn hẳn. - Huyết áp thay đổi theo sự hoạt động của cơ thể (kể cả lao động trí óc lẫn chân tay), khi cơ thể tăng cường vận động, nhu cầu ôxy và chất dinh dưỡng đảm bảo cho hoạt động đó tăng lên, yêu cầu tim phải làm việc nhiều bằng cách tăng tẩn số và cường độ co bóp.
Do đó, khi hoạt động nhiều HA tăng lên. Khi nghỉ ngơi, HA trở lại bình thường. Khi lao động trí óc căng thẳng kéo dài liên tục, HA có thể tăng lên cao, nếu người đó đã có sẵn bệnh THA thì nguy cơ dẫn đến tai biên m ạch máu não càng tâng lên. Trước đây công thức LION được giảng dạy trong các trường đại học là: Huyết áp tâm thu = tuổi +100 (mmHg) Huyết áp tâm trương = (huyết áp tâm thu: 2) + 10 hoặc 20 mmHg (Công thức này hiện nay không được áp dụng nữa, đánh giá huyết áp hoàn toàn dựa vào định nghĩa và phân loại của WHO/ISH 1999).
Tuy nhiên khi tuổi quá cao, động mạch bị lão hoá nhiều, mất lính đàn hồi, động mạch cứng hơn thì có thế làm cho huyết áp tâm thu cao hơn và gày chứng tăng huyết áp tâm thu đơn thuần. Ngoài ra huyết áp còn thay đổi do dùng thuốc, do thay đổi trạng thái tâm lý. Nhưng tất cả các thay đổi sinh lý của huyết áp chỉ ở mức giới hạn. sau đó có thể tự điều chính về mức bình thường mà không cần điều trị gì cả [3,19].
Một sô yêu tô nguy cơ liên quan tới tăng huyết áp 1. Tuổi và giói tính Tất cả chúng ta đều biết rằng người lớn tuổi có nguy cơ mắc bệnh và tử vong do những bệnh có liên quan đến THA cao hơn những người trẻ tuổi. M ặc dù THA lâm tr ương gi ảm nh ẹ dần khi vượt qua độ tuổi 65 -70 tuổi, huyết áp tâm thu lại tiếp lục tăng so với tuổi đời. 7 Nhiều nghiên cứu lớn cho thấy huyết áp tăng dần theo tu ổi, đ ồng th ời t ỷ l ệ b ệnh THA cũng tăng rõ rệt trong các lứa tuổi càng cao.
Huy ết áp tâm thu tãng d ần t ừ tu ổi thi ếu niên đ ến tuổi trưởng thành. Nhưng ờ một vài quần thê nhu' thổ dân Yanamano ở Brazil, dân di cư ở Kenia, đặc biệt là các quần thể ăn ít muôi thì huyết áp không tăng theo tuổi và khi họ thay đổi lối sống theo kiểu vãn minh nhất là thay đối chê độ ãn, như ãn nhiều muối hơn thì lại tãng huyết áp theo tuổi, điều đó chứng minh ràng sự tăng huyết áp theo tuổi không phải là sinh lý bình thường cúa con người, cũng không phải không thế phòng tránh được [21]. Theo nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cs năm 1999 cho thấy tuổi càng cao thì THA càng tãng ở bất kỳ lứa tuổi nào [16]. Còn về giới tính thì ở lứa tuổi thanh niên trở lên, nhất là trung niên nam giới, có HA trung bình cao dần hơn nữ.
Tỷ lệ chết sớm cũng cao hơn, nhưng về cuối đời thì ngược lại, HA nữ tăng nhanh hơn, có lẽ do hậu mãn kinh. Mời liên quan giữa tỷ lệ tăng huyết áp với tuổi và giới tính (Phạm Gia Khải - 2000 - Hà Nội) Tỷ lệ nam Tỷ lệ nữ Tỷ lệ THA Độ Tuổi THA(%) THA (%) Chung(%) 16-24 3,32 2,21 2,78 25 - 34 9,91 3,90 6,68 35 - 44 16,61 8,20 11,88 45 - 54 26,21 20,23 22,95 55 - 64 46,64 31,05 38,21 65 - 74 56,61 42,17 46.99 > 75 75 61,61 65,46 Các còng trình nghiên cún trên thẻ' giới cũng đều th ấy rằng THA ở nam nhi ều h ơn n ữ. SN và cs ở bệnh viện Mayoclinic, Minnesota Hoa kỳ năm 1998 thì sự khác nhau này có liên quan về gen, về sinh lý học giới tính [37], Công trình nghiên cứu điều tra sức khỏe tim mạch Canada năm 1995 l ựa ch ọn 23129 đối tượng tuổi từ 18 - 74 cúa toàn bộ 20 tinh thành phố đã xác định tỷ lệ 8 THA là 22% (nam 26%, nữ 19%). Có 41% bệnh nhân THA không biết mình có tình trạng HA cao, đậc biệt ớ người trẻ (18 - 34 tuổi).
Trong số bệnh nhân THA, 58% không được điều trị gì. 19% được dùng thuốc, 7% điều trị không dùng thuốc và 16% điều trị cả dùng thuốc và các phương pháp không dùng thuốc [3], 1. Chỉ sô khối cơ thểBMI (Body Mass Index) Béo phì là một tình trạng sức khoẻ có nguyên nhân liên quan v ới ch ất dinh d ưỡng. Thông thường một người trướng thành khoẻ mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng của họ đứng yên hoặc giới hạn nhất định.
Béo phì không tốt đối với sức khoẻ, người càng béo các nguy cơ càng nhiều. Trước hết, người béo phì dễ mắc các bệnh tăng huyết áp. bệnh mạch vành, đái tháo đường. BMI= cân nặng (kg) chia cho chiều cao (m) bình phương.
Chí số BM1 có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ khối mỡ trong cơ thế. Đã có rất nhiều bằng chứng nêu lên mối hèn quan giữa thừa cân với bệnh tim mạch nói chung và bệnh lăng huyết áp nói riêng. Chỉ sớ BMI bình thường: 18,5- 24,99. Khi BMI từ 25 trở lên là thùa cân, khi BMI > 30 được coi là béo phì.
người béo phì có nguy cơ bị THA 5,6 lần hơn người không béo phì [8].