ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obtructive Pulmonary Disease (COPD)) là bệnh thường gặp và có xu hướng ngày càng tăng do sự già hóa dân số, hút thuốc lá và ô nhiễm không khí. Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization (WHO)), trên toàn cầu ước tính có 251 triệu ca mắc COPD trong năm 2016, chiếm khoảng 12% dân số từ 40 tuổi trở lên [78]. Đến năm 2020 số người mắc COPD tăng lên 3 - 4 lần và là căn bệnh gây tử vong đứng hàng thứ 3 trên thế giới. COPD gây ra 3,2 triệu ca tử vong mỗi năm (tức là khoảng 5% tổng số ca tử vong trên toàn cầu mỗi năm) [78].
COPD được dự báo sẽ tăng trong vòng 30 năm tiếp theo và đến năm 2030 sẽ có hơn 4,5 triệu người chết do COPD và các yếu tố liên quan đến bệnh [37]. Về chi phí điều trị của COPD, theo nghiên cứu về gánh nặng kinh tế của COPD ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (2019) cho thấy tổng chi phí xã hội hàng năm của COPD dao động từ 4398 đến 23049 đô la Mỹ (USD) trên đầu người ở Nhật Bản, 453 đến 12167 USD ở Hàn Quốc, Singapore là 2700 USD, Đài Loan là 4000 USD, Trung Quốc là 3942 USD và Thái Lan là 1105 USD [79]. Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tỷ lệ mắc COPD là 4,1% ở người trên 40 tuổi và có xu hướng tiếp tục tăng cao do tình trạng hút thuốc lá, thuốc lào và ô nhiễm môi trường gia tăng [65]. Theo WHO, tỷ lệ mắc COPD ở Việt Nam là 7,1% ở nam, 1,9% ở nữ và 75% số ca mắc COPD là do hút thuốc lá [78].
Chi phí điều trị ở Việt Nam tuy thấp hơn các nước trong khu vực nhưng là gánh nặng đối với cá nhân, gia đình và xã hội. Theo một nghiên cứu năm 2019 cho thấy chi phí cho nằm viện của COPD trung bình là 2,5 triệu đồng/ngày nằm viện và tổng chi phí là 18,3 triệu đồng/đợt nằm viện, trong đó chi phí thuốc điều trị chiếm 53,9% chi phí nằm viện [58]. COPD gây ra gánh nặng bệnh tật và kinh tế cho toàn cầu nói chung và tại Việt Nam nói riêng. COPD đặc trưng bởi sự hạn chế luồng khí thở không hồi phục hoàn toàn.
Các triệu chứng hô hấp (ho, khạc đàm, khó thở, thở khò khè) kéo dài, ngày càng tăng làm bệnh nhân giảm khả năng vận động, tập thể dục, mệt mỏi, chán ăn, giảm cân, trầm cảm và rối loạn giấc ngủ [26], [38], [45]. COPD không chỉ ảnh hưởng các hoạt động thể chất mà còn tác động đến các vấn đề tâm lý, xã hội. Chính vì vậy, bệnh nhân cần học cách tự chăm sóc và chịu trách nhiệm quản lý bệnh của họ mỗi ngày. Tự chăm sóc tốt sẽ giúp giảm số lần nhập viện, kiểm soát tình trạng bệnh, nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống [33], [67].
Một nghiên cứu can thiệp hướng dẫn tự chăm sóc trên bệnh nhân người lớn mắc COPD đã cho thấy có sự cải thiện đáng kể về hành vi tự chăm sóc, tuân thủ điều trị và kiến thức về bệnh. Bên cạnh đó, cũng tìm ra được mối liên hệ giữa khả năng tự chăm sóc, tuân thủ điều trị và triệu chứng trầm cảm [28]. Bệnh nhân có hành vi tự chăm sóc tốt sẽ có cải thiện về tuân thủ điều trị cũng như giảm trầm cảm. Tuy nhiên, hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tuổi, thu nhập, các triệu chứng của bệnh, kiến thức về bệnh, yếu tố tâm lý (lo âu, trầm cảm) và sự hỗ trợ từ gia đình, xã hội [21].
Trong các yếu tố trên, sự hỗ trợ từ gia đình là yếu tố ảnh hưởng tích cực, to lớn đến khả năng tự chăm sóc và thực hiện hành vi tự chăm sóc của một cá nhân [21], [77]. Các thành viên trong gia đình có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Họ có ý thức trách nhiệm về việc hỗ trợ các thành viên khác trong gia đình về thể chất, tinh thần, kinh tế và xã hội [42], [66]. Một vài nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ tích cực giữa sự hỗ trợ từ gia đình và hành vi tự chăm sóc.
Nghiên cứu do Zijing Chen và cộng sự (2017) thực hiện cho thấy bệnh nhân COPD sống với người thân có hoạt động thể chất nhiều hơn những người sống một mình, tỷ lệ tham gia tập luyện phục hồi chức năng. hô hấp cũng cao hơn gấp 11 lần ở những người sống cùng vợ/chồng so với những người chỉ sống một mình [30]. Mặc dù gia đình có tác động tích cực đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân nhưng hiệu quả của sự hỗ trợ từ gia đình còn phụ thuộc vào cảm nhận của bệnh nhân về sự hỗ trợ mà họ nhận được [48]. Cảm nhận được gia đình hỗ trợ có nghĩa là bệnh nhân tin là họ nhận được sự giúp đỡ từ những người thân trong gia đình khi phải chịu áp lực từ bệnh tật [62].
Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi bệnh nhân cảm nhận được gia đình hỗ trợ tốt sẽ giúp tăng cường sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội, tăng động lực tuân thủ phác đồ điều trị, tăng tuổi thọ, giảm tỷ lệ nhập viện và tử vong [42], [48], [64]. Bên cạnh đó, còn giúp bệnh nhân giảm trầm cảm và lo lắng, tăng sự sẵn lòng tham gia các hành vi tự chăm sóc và giảm gánh nặng cho người chăm sóc [42]. Theo hiểu biết của chúng tôi, hiện nay tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD, cảm nhận của bệnh nhân về sự hỗ trợ của gia đình cũng như mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ với hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD. Các dữ liệu về các vấn đề trên vẫn còn rất hạn chế.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” với mong muốn kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp điều dưỡng thực hành xác định được các hành vi tự chăm sóc còn kém của bệnh nhân COPD, mức độ thực hiện các hành vi tự chăm sóc cũng như mức độ cảm nhận được gia đình hỗ trợ của bệnh nhân và mối liên quan giữa hai yếu tố trên. Từ đó, điều dưỡng xây dựng các can thiệp nhằm tăng cường sự hỗ trợ từ gia đình cho bệnh nhân COPD, giáo dục sức khỏe nhằm giúp bệnh nhân tăng cường kiến thức về bệnh, phát triển các kỹ năng thực hiện các hành vi tự chăm sóc một cách hiệu quả và hướng đến mục đích cuối cùng là giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân COPD. Câu hỏi nghiên cứu: - Có mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ với hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD không? Mục tiêu tổng quát: - Xác định mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ với hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD. Mục tiêu cụ thể 1.
Xác định tỷ lệ bệnh nhân COPD có hành vi tự chăm sóc tốt. Xác định tỷ lệ bệnh nhân COPD cảm nhận được gia đình hỗ trợ tốt. Xác định mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ với hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố tuổi, giới, tình trạng kinh tế, tình trạng hút thuốc, tình trạng bệnh với hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) 1. Định nghĩa COPD Theo Hiệp hội sáng kiến toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (The global initiative for chronic obstructive lung disease (GOLD)) 2020, COPD được định nghĩa là một bệnh thường gặp, dự phòng và điều trị được, có đặc điểm là triệu chứng hô hấp và giới hạn luồng khí dai dẳng do bất thường ở đường thở và/hoặc phế nang thường do phơi nhiễm với các phân tử hoặc khí độc [38]. Các yếu tố liên quan COPD Nguyên nhân chính của COPD là do tiếp xúc với khói thuốc lá (hút thuốc chủ động hoặc hút thuốc thụ động) chiếm 3/4 trường hợp.
Các yếu tố rủi ro khác bao gồm tiếp xúc với ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời, bụi và khói nghề nghiệp. Nhiều trường hợp COPD có thể phòng ngừa được bằng cách tránh hoặc cai thuốc lá sớm [78]. Các yếu tố nội sinh như thiếu hụt men antitrypsin, hen phế quản. cũng liên quan đến COPD [75].
Tỷ lệ tử vong và gánh nặng của COPD Để đánh giá mức độ thiệt hại gây ra do khuyết tật và tử vong của bệnh tật một cách chính xác, các chuyên gia dùng chỉ số DALYs (The disability- adjusted life year). DALYs là đơn vị tính số năm sống còn lại của người bệnh trong tình trạng khuyết tật và số năm người bệnh tử vong sớm do bệnh tật. Năm 2005, chỉ số DALYs do COPD đứng thứ 8 trên toàn cầu nhưng đến năm 2013 COPD đã là nguyên nhân thứ 5. Tại Mỹ, COPD là nguyên nhân đứng thứ hai làm giảm DALYs, chỉ sau bệnh thiếu máu cục bộ [38].
Davies Adeloye (2015) thu thập 37472 ấn bản từ năm 1990 đến năm 2014 trong tổng số 132 nghiên cứu về tỷ lệ mắc COPD. Bằng phương pháp. phân tích hồi quy cho thấy năm 1990 trên toàn cầu ước tính khoảng 227,3 triệu người từ 30 tuổi trở lên mắc COPD chiếm khoảng 10,7%, số người mắc COPD tăng đến 284 triệu vào năm 2010 chiếm 11,7%. Tỷ lệ mắc cao nhất ở châu Mỹ (13,3% năm 1990 và 15,2% năm 2010), thấp nhất ở Đông Nam Á (7,9% năm 1990 và 9,7% năm 2010).
Từ năm 1990 đến năm 2010, tỷ lệ mắc tăng nhanh nhất ở Địa Trung Hải (118,7%), sau đến Châu Phi (102,1%), thấp nhất ở Châu Âu (22,5%). Năm 1990 tỷ lệ mắc COPD ở thành thị là 13,2%, nông thôn là 8,8%, năm 2010 tỷ lệ mắc ở thành thị là 13,6% và nông thôn là 9,7%. Nhìn chung tỷ lệ mắc ở nam 14,3%, nữ 8,2% [19]. Tại Việt Nam, theo Ngô Quý Châu và cộng sự (2019), chi phí điều trị trung bình cho một đợt nhập viện của bệnh nhân COPD vì đợt cấp là 18 triệu VNĐ, trong đó chi phí cho thuốc điều trị chiếm 53,9% chi phí điều trị [58].