Chương 1: Cơ sở lý luận về mở rộng tín dụng trong khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng trong khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Agribank huyện Lý Nhân Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng trong khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Agribank huyện Lý Nhân 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Tại các quốc gia khác nhau khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có những tiêu thức, thước đo khác nhau để phân loại, thậm chí ngay trong cùng một quốc gia, tuỳ thuộc vào mục đích quản lý giữa các ngành, các bộ cũng có thể có những tiêu thức phân loại khác nhau. Tuy nhiên, các nước thường lựa chọn nhóm chỉ tiêu định lượng dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn.
Còn việc phân loại theo qui mô lại chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước: trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên; tính chất ngành nghề và vùng lãnh thổ.1: Tiêu chí phân loại DNNVV tại World Bank Qui mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu Siêu nhỏ < 10 < $100,000 < $100,000 Nhỏ < 50 < $3 triệu < $3 triệu Vừa < 300 < $15 triệu < $15 triệu Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < $10,000 Nhỏ < $100,000 Vừa < $1 triệu (< $2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến) Nguồn: Ayyagari, Beck, và Demirguc-Kunt, 2005 Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng Thế giới (World Bank), căn cứ vào quy mô của có thể chia DNNVV thành 3 loại: doanh nghiệp siêu nhỏ, 7 doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Các tiêu chí để phân loại DNNVV chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hàng năm của doanh nghiệp. Ngoài ra, World Bank còn đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại doanh nghiệp. Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ nêu rõ DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).2: Quy định doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam Chỉ tiêu Tổng nguồn vốn Số lao động Doanh thu Doanh nghiệp siêu Doanh thu ≤ 10 tỷ Dưới 3 tỷ Dưới 10 người nhỏ đồng một năm Số lượng lao Doanh thu ≤ 100 Doanh nghiệp nhỏ 50 tỷ đồng trở xuống động ≤ 50 người tỷ đồng một năm Số lượng lao Doanh thu ≤ 300 Doanh nghiệp vừa 100 tỷ đồng trở xuống động ≤ 100 tỷ đồng một năm người Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP Như vậy, một tổ chức được xác định là DNNVV khi: + Là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật.
+ Có số lao động bình quân năm hoặc quy mô tổng nguồn vốn/tổng tài sản đáp ứng theo quy định, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa. + Tiêu chí xác định loại hình doanh nghiệp (siêu nhỏ, nhỏ hay vừa) đối với từng ngành nghề khác nhau thì khác nhau. Đối với doanh nghiệp hoạt 8 động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, yêu cầu về số lượng lao động hoặc quy mô tài sản đều ít hơn so với doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp hoặc công nghiệp và xây dựng. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Nguyễn Minh Kiều (2015): DNNVV có những đặc điểm chủ yếu như sau: Thứ nhất, DNNVV có quy mô hoạt động kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ Với lượng vốn đầu tư giới hạn là 100 tỷ và số lượng lao động tối đa là 300 người, DNNVV dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh, phát triển trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.
Tuy nhiên, nguồn vốn chủ yếu là vốn chủ sở hữu doanh nghiệp, khoản chiếm dụng của người bán, khoản trả trước của khách hàng hoặc các nguồn vốn phi chính thức khác; khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng hoặc các nguồn vốn trên thị trường chứng khoán còn hạn chế nên tiềm lực tài chính của các DNNVV thấp, khả năng đầu tư vào công nghệ kỹ thuật, máy móc thiết bị, nhà xưởng bị giới hạn và khó khăn cho mở rộng thị trường. Thứ hai, DNNVV hoạt động tại nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đa dạng DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,. trên nhiều ngành nghề khác nhau. Với vốn đầu tư ban đầu ít, bộ máy quản lý đơn giản, có khả năng thu hồi vốn nhanh, hạn chế được tình trạng ứ đọng vốn trong quá trình tái sản xuất, các DNNVV có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư; phát triển nhanh chóng đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của thị trường, là nhân tố đóng góp vào ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
9 Thứ ba, hoạt động của DNNVV phụ thuộc vào biến động của môi trường kinh doanh Quy mô vốn thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh mang nặng tính thời vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, nguồn vốn thiếu đa dạng dẫn đến tính ổn định của DNNVV tương đối thấp. Chính vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNNVV. Tuy vậy, DNNVV năng động, linh hoạt trước những sự thay đổi của thị trường, đặc biệt là những nhu cầu nhỏ lẻ do DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt bằng nhanh; tăng, giảm lao động dễ dàng. Thứ tư, trình độ công nghệ kỹ thuật chưa hiện đại và năng lực cạnh tranh hạn chế Xuất phát từ tiềm lực tài chính nhỏ nên DNNVV hạn chế trong việc đầu tư nâng cấp, đổi mới trang thiết bị không thường xuyên so với các doanh nghiệp lớn, dẫn tới việc sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao.
Trình độ, kĩ năng của người lao động chưa cao nên khả năng tiếp cận với công nghệ, máy móc hiện đại bị giới hạn. Hạn chế trong đầu tư vào khoa học kĩ thuật và nâng cao trình độ năng lực của người lao động dẫn đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường giảm. Ngoài ra, việc xây dựng phương án kinh doanh còn mang tính chất nhất thời, ngắn hạn, chưa có sự nghiên cứu sâu về thị trường, chưa có phương án giới thiệu, quảng bá về sản phẩm, dịch vụ nên chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều rủi ro cũng là nhân tố làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Thứ năm, bộ máy điều hành gọn nhẹ, tính linh hoạt cao nhưng năng lực quản trị chưa cao Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như 10 bộ máy quản lý trong các DNNVV tương đối gọn, không có quá nhiều khâu trung gian.
Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; các quyết định, các chỉ tiêu. đến với người lao động một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Mô hình quản lý trực tiếp được áp dụng trong các DNNVV nên các quyết định thường được đưa ra nhanh chóng. Tuy nhiên, một bộ phận Ban lãnh đạo của DNNVV chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt là các kiến thức về kinh tế thị trường, luật pháp, quản trị kinh doanh do vậy trình độ quản lý còn hạn chế.
Việc đưa ra các quyết định nhanh chóng khi chưa có sự nghiên cứu về thị trường thường dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp khi các quyết định đưa ra thiếu chính xác. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Nhiều quốc gia trên thế giới, từ các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển đến các quốc gia có nền kinh tế phát triển, vai trò của DNNVV được đánh giá rất cao. Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt nam nói riêng và trên thế giới nói chung, thì DNNVV là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu của nền kinh tế. Theo đó loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo.
Có thể khái quát vai trò của DNNVV trong nền kinh tế như sau: Thứ nhất, DNNVV tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp Do các DNNVV tham gia kinh doanh ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế với đa dạng các sản phẩm nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều cùng miền khác nhau. Mặt khác, do đặc điểm sản xuất kinh doanh không yêu cầu trình độ cao nên có thể sử dụng được cả lao động ở các vùng sâu, vùng xa, vùng chưa kinh tế chưa phát triển. Đặc biệt khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, trong khi các doanh 11 nghiệp lớn thường phải sa thải nhân công để cắt giảm chi phí thì các DNNVV, với tính chất linh hoạt và năng động của mình, có thể thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường, có thể đứng vững mà không phải cắt giảm nhân công, hoặc có thể nhanh chóng thu hút lại lực lượng lao động khi nền kinh tế đi vào chu kỳ phục hồi. Thứ hai, DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ở hầu hết các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn.
Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì vậy, DNNVV được xem như thanh giảm sốc cho nền kinh tế trước những biến động lớn. Với lợi thế về vốn đầu tư ít và nguồn lao động dồi dào, trong những năm qua, DNNVV phát triển ngày càng nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng số doanh nghiệp.