CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của ngân hàng thương mại a. Khái niệm doanh nghiệp Theo điều 4 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế và chịu sự quản lý của Nhà nước bởi Luật doanh nghiệp và các quy định của pháp luật”. Theo đó doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng riêng của nó và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp. Chúng ta có thể phân ra các loại hình doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty TNHH có hai thành viên trở lên; Công ty TNHH một thành viên; Công ty cổ phần; Công ty nhà nước; Doanh nghiệp liên doanh; Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Trong giao dịch với ngân hàng, doanh nghiệp có đặc điểm sau: Thứ nhất, khách hàng doanh nghiệp là đối tượng khách hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ về mặt số lượng nhưng chiếm tỷ trọng lớn về mặt doanh số giao dịch. Do vậy, giao dịch với KHDN, ngân hàng có thể tiết kiệm được 13 chi phí giao dịch dựa vào lợi thế về quy mô giao dịch. Cụ thể khi vay vốn, KHDN thường vay những khoản vay có giá trị lớn, quy mô của từng hợp đồng vay lớn do đó ngân hàng tiết kiệm được chi phí tổ chức cho vay. Thứ hai, thông tin tài chính của khách hàng doanh nghiệp rõ ràng và được thể hiện qua báo cáo tài chính.
Khái niệm cho vay doanh nghiệp Cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng của NHTM. Theo Điều 4 Luật tổ chức tín dụng số 47/2010/QH1: “Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong đó “Cho vay doanh nghiệp là việc thoả thuận để doanh nghiệp sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp * Khái niệm và đặc điểm cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp là loại hình cho vay có thời hạn nhỏ hơn hoặc bằng một năm.
Mục đích là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động và đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Pháp luật Việt Nam và có những đặc điểm như sau: - Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với các chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng, nhưng tối đa không quá 12 tháng. - Cho vay ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lưu động tạm thời thiếu của các doanh nghiệp. - Lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung dài hạn. 14 - Đối tượng cho vay là giá trị vật tư hàng hoá trong các khâu dự trữ, lưu thông và các chi phí cấu thành giá mua hoặc giá thành sản phẩm, các khoản chi phí khác để doanh nghiệp tiến hành phương án sản xuất kinh doanh.
- Đối tượng khách hàng đa dạng vì các DN hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó nhu cầu vay vốn cũng đa dạng và phong phú, từ việc cho vay trong lĩnh vực xây dựng đối với các DN xây lắp hay cho vay lĩnh vực đầu tư chăm sóc cây công nghiệp đối với các DN sản xuất cà phê, cao su. - Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoản vay có giá trị lớn. - Thủ tục và quy trình cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý của DN phức tạp hơn nhiều so với cá nhân.
Bên cạnh đó giá trị khoản vay lớn và TSBĐ thường phức tạp, khó định giá hơn vì hầu hết tài sản DN thường thế chấp chính nhà máy, thiết bị sản xuất của mình. - Nguồn trả nợ của người vay từ tiền bán hàng, lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác. - So với cho vay khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, khách hàng doanh nghiệp có hệ thống thông tin tốt hơn, chặt chẽ hơn do đều có hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tài chính. Các thông tin tài chính được khách hàng cung cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thuế.
Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không, uy tín của tổ chức kiểm toán mà chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp cao hay thấp. - Rủi ro xảy ra từ cho vay doanh nghiệp thường gây ra tổn thất lớn cho NHTM. Do đó, các lãnh đạo NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi ro các khoản cho vay doanh nghiệp. 15 * Phân loại cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp Các loại cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của NHTM như: - Cho vay mua hàng dự trữ là loại cho vay để tài trợ mua hàng tồn kho như nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm.
Đây là loại hình cho vay ngắn hạn chủ yếu của các NHTM. Đặc điểm của loại hình cho vay này là ngân hàng xem xét cho vay từng lần theo từng đối tượng cụ thể; kỳ hạn nợ của loại cho vay này cụ thể, bắt đầu từ lúc bỏ tiền để mua hàng tồn kho và chấm dứt khi hàng tồn kho đã tiêu thụ và thu được tiền. Phương thức cho vay đối với dự trữ hàng tồn kho được áp dụng là phương thức cho vay ứng trước, thời hạn cho vay gắn liền với chu kỳ ngân quỹ của doanh nghiệp. - Cho vay vốn lưu động là loại cho vay nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu dự trữ hàng tồn kho và có đặc điểm gần giống với cho vay mua hàng dự trữ, tuy nhiên loại cho vay nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của doanh nghiệp tức nhu cầu vốn lưu động thời vụ của khách hàng), đặc điểm của loại hình cho vay này: + Đối tượng cho vay là toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt.
Hạn mức tín dụng là cơ sở để ngân hàng cho vay và giải ngân. + Không có kỳ hạn cụ thể gắn với từng lần giải ngân mà chỉ có thời hạn cho vay cuối cùng và các điều kiện sử dụng vốn vay. + Chi phí của món vay bao gồm chi phí trả lãi và chi phí ngoài lãi như phí cam kết sử dụng hạn mức. + Thời hạn cho vay tuỳ theo đặc điểm về chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của từng loại khách hàng, có thể vài ngày đến 1 năm.
- Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, sau khi nhận được các công trình xây dựng, cần phải ứng vốn mua nguyên liệu, thuê thiết bị, thuê nhân công,., để thực hiện thi công và khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành thì mới được 16 chủ đầu tư thanh toán theo thoả thuận ở hợp đồng nhận thầu. Vì vậy, cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp để đáp ứng nhu cầu vốn trong quá trình thi công các công trình xây dựng, đặc điểm của loại cho vay này: + Việc xem xét cho vay chủ yếu dựa vào từng hợp đồng nhận thầu. + Đối tượng cho vay là tiền thuê công nhân, thiết bị, mua vật tư, nguyên liệu để thực hiện thi công theo hợp đồng nhận thầu. + Kỳ hạn nợ được xác định dựa vào kế hoạch thi công theo hợp đồng nhận thầu.
+ Nguồn thu nợ là tiền thanh toán của chủ đầu tư. + Hợp đồng nhận thầu là cơ sở đảm bảo cho khoản tiền vay. Loại cho vay này khá chắc chắn nhưng vẫn thường xảy ra một số rủi ro là ý thức trả nợ, khả năng thanh toán của chủ đầu tư và khả năng thực hiện hợp đồng của nhà thầu. - Cho vay kinh doanh chứng khoán là loại cho vay đối với các công ty chứng khoán.
Thời hạn cho vay từ khi mua chứng khoán mới đến khi bán chứng khoán đó cho khách hàng. Loại cho vay này có thời hạn rất ngắn và được đảm bảo bằng chính các chứng khoán mua vào hoặc tài sản khác. - Cho vay kinh doanh bán lẻ là loại cho vay đối với các DN bán lẻ hàng tiêu dùng để họ thanh toán tiền mua hàng cho nhà sản xuất, cơ sở để cho vay dựa vào hàng tồn kho. Sau khi tiêu thụ được hàng hoá, doanh nghiệp sẽ thanh toán tiền vay cho NH.
Tài sản tồn kho là tài sản thuộc quyền sở hữu của NH. - Cho vay trên tài sản có là loại cho vay dựa trên cơ sở số dư của các khoản phải thu, tồn kho nguyên liệu, thành phẩm. Tài sản đảm bảo cho các khoản cho vay này là chính các tài sản được tài trợ. Đối với các khoản phải thu, hoạt động cho vay này được thực hiện thông qua nghiệp vụ chiết khấu hoặc nghiệp vụ mua nợ.
17 * Phương thức cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp Hai phương thức cho vay ngắn hạn được áp dụng phổ biến nhất hiện nay là: - Cho vay từng lần là cho vay theo đối tượng cụ thể như cho vay dự trữ nguyên liệu, hàng hoá,. Số tiền cho vay được xác định trên cơ sở các chứng từ mua hàng, hoá đơn, bản kê hàng tồn kho.