phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề án gồm 3 chương: Chƣơng 1: Căn cứ xây dựng đề án. Chƣơng 2: Nội dung của đề án. Chƣơng 3: Kiến nghị. 4 CHƢƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.
Tổng quan về dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Dịch vụ đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thông qua việc tạo ra giá trị đóng góp cho nền kinh tế của quốc gia. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của dịch vụ nên đến nay chưa có một định nghĩa nào thống nhất về dịch vụ. Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất.
Theo Philip Kotler và Keller (2006), “dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hội nhập, các sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng và phong phú.
Vậy dịch vụ ngân hàng là gì? Theo khái niệm đưa ra của Tổ chức thương mại thế giới WTO (1995): dịch vụ ngân hàng được hiểu là bất cứ dịch vụ nào được ngân hàng cung cấp. Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam (2024) có quy định dịch vụ ngân hàng nhưng không nêu ra định nghĩa cụ thể mà đưa ra cụm từ “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ như: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất trong các loại hình dịch vụ tài chính và nó là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính. Thị trường dịch vụ tài chính là một khái niệm mới do Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đưa ra nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nước thành viên WTO trong hoạt động thương mại dịch vụ. Theo WTO (1995) “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp.
5 Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác”. Trong dịch vụ tài chính có tất cả dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành trong dịch vụ tài chính nói chung. Từ những định nghĩa trên có thể đưa ra kết luận về DVNH như sau: “DVNH là một bộ phận của dịch vụ tài chính, là các dịch vụ tài chính do ngân hàng cung cấp bao gồm các dịch vụ huy động vốn, tín dụng, thanh toán, tài chính phái sinh, ngoại hối và các dịch vụ khác”.
Đặc điểm sản phẩm dịch vụ ngân hàng Sản phẩm dịch vụ ngân hàng có một số đặc điểm sau: - Dịch vụ ngân hàng có tính vô hình: Đây là đặc điểm của dịch vụ nói chung và là đặc điểm chủ yếu để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. - Dịch vụ ngân hàng có đặc tính không tách biệt: Quá trình cung ứng dịch vụ ngân hàng được tiến hành theo quy trình nhất định, cung ứng dịch vụ diễn ra cùng lúc với tiêu dùng dịch vụ ngân hàng và có sự tham gia trực tiếp của khách hàng. Vì vậy, dịch vụ ngân hàng không dở dang, không dự trữ lưu kho mà cung ứng trực tiếp cho khách hàng khi họ có nhu cầu. - Dịch vụ ngân hàng có tính không ổn định và khó xác định chất lượng: Dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như quy trình nghiệp vụ, kỹ thuật công nghệ, trình độ, kỹ năng của người cung cấp…Đồng thời, sự khác nhau về cách thực hiện, điều kiện thực hiện, thời gian thực hiện làm cho chất lượng dịch vụ không ổn định và khó xác định.
- Dịch vụ ngân hàng không lưu trữ được: Chính vì đặc điểm không thể tách biệt nên dịch vụ ngân hàng không thể sản xuất sẵn và lưu kho như các sản phẩm thông thường khác. - Tính trùng lặp và dễ bị sao chép: Dịch vụ ngân hàng không được bảo hộ cho những phát minh sáng chế nên rất dễ bị sao chép. Nếu một ngân hàng tổ chức thực hiện một loại dịch vụ nào đó có hiệu quả thì ngay lập tức các ngân hàng khác có thể 6 thực hiện ngay các dịch vụ đó nếu họ muốn. Vì đặc tính này nên tính cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng rất khốc liệt.
- Dòng thông tin hai chiều: Dịch vụ ngân hàng không đơn giản là diễn ra và kết thúc ngay một lần mà nó xảy ra trong một khoảng thời gian cụ thể với chuỗi giao dịch hai chiều. Ngân hàng có thể nắm bắt được các thông tin, yêu cầu của khách hàng để từ đó có các điều chỉnh thích hợp thỏa mãn hơn nhu cầu của khách hàng. - Dịch vụ mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua phí dịch vụ. Thu nhập của ngân hàng hình thành từ phí dịch vụ nói chung, có những dịch vụ làm tăng thu nhập của ngân hàng một cách trực tiếp như: Lãi cho vay, phí mua bán ngoại tệ, phí chuyển tiền, phí mở và thanh toán L/C… Tuy nhiên, cũng có dịch vụ mà ngân hàng thu từ khách hàng không đủ vốn đầu tư vào nó mà chỉ thông qua dịch vụ đó để lôi kéo khách hàng, tăng sức cạnh tranh với các ngân hàng khác hoặc thông qua các dịch vụ đó làm tăng thu nhập từ các dịch vụ khác.
Dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về dịch vụ phi tín dụng Hiện nay chưa có định nghĩa trực tiếp dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại là gì, tuy nhiên ta có thể đưa ra khái niệm tổng quát về dịch vụ phi tín dụng thông qua dịch vụ tín dụng. Khi nói đến dịch vụ phi tín dụng ta hiểu là tất cả dịch vụ ngân hàng mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng không bao gồm hoạt động tín dụng (cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh) và hoạt động huy động vốn. Nếu như trong hoạt động tín dụng có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị và thu nhập nó mang lại cho ngân hàng chủ yếu là từ lãi suất thì nguồn thu mà dịch vụ phi tín dụng mang lại cho ngân hàng là phí, hoa hồng, chênh lệch giá. Trong phạm vi đề tài này, dịch vụ phi tín dụng được hiểu là những dịch vụ mà khi NHTM cung cấp theo yêu cầu của khách hàng sẽ mang lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng của NHTM.
Đặc trưng của dịch vụ phi tín dụng Vì các dịch vụ phi tín dụng cũng là các dịch vụ ngân hàng nên nó cũng có những đặc điểm của dịch vụ ngân hàng như tính vô hình, tính không ổn định, tính 7 không thể tách biệt, tính không lưu trữ được như đề cập phía trên. Ngoài ra dịch vụ phi tín dụng còn có những đặc trưng sau: Thứ nhất: Ngoài phải đầu tư nguồn vốn ban đầu để trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ dịch vụ và đầu tư nguồn nhân lực thì các NHTM không phải sử dụng đến nguồn vốn hoặc sử dụng ít nguồn vốn của mình nếu có để thực hiện nghĩa vụ ngay khi thực hiện giao dịch về dịch vụ phi tín dụng. Và đây là một trong những lợi thế mà NH nên khai thác để phát triển các loại hình dịch vụ phi tín dụng. Thứ hai: Nhờ đặc trưng thứ nhất, các dịch vụ phi tín dụng của NH thường mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng thương mại bởi chi phí giao dịch mà NH bỏ ra thường rất thấp, mà chủ yếu tận dụng vào cơ sở hạ tầng công nghệ đã được đầu tư trước đó.
Đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả, thu hút các Ngân hàng thương mại hiện đại trên thế giới. Thứ ba: Dịch vụ phi tín dụng của Ngân hàng thương mại được xếp vào những lĩnh vực kinh doanh tương đối an toàn, rủi ro thấp. Thứ tư: Các dịch vụ phi tín dụng của NH có tính hỗ trợ cao và liên kết chặt chẽ với nhau. Các DV luôn đòi hỏi đi kèm với nhau, sự tồn tại và phát triển của DV này gắn liền với các dịch vụ khác.
Do đó, dịch vụ phi tín dụng của NH đòi hỏi sự phát triển đồng bộ. Thứ năm: Dịch vụ phi tín dụng vô cùng đa dạng, phong phú và không ngừng phát triển. Trên thế giới có rất nhiều loại hình dịch vụ phi tín dụng. Ở Việt Nam, dịch vụ phi tín dụng đã được triển khai tập trung ở 12 hình thức chủ yếu sau: Dịch vụ thanh toán tiền mặt và phi tiền mặt với hình thức nhờ thu và thư tín dụng (L/C); Mua - bán ngoại tệ; Uỷ thác; Thẻ; Quản lý tiền mặt; Tư vấn và cung cấp thông tin; Ngân hàng giám sát; Ngân hàng điện tử; Kế toán; Giao dịch các công cụ phái sinh; Môi giới đầu tư chứng khoán… Thứ sáu: Có nhiều loại dịch vụ phi tín dụng ra đời và phát triển với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin.
Khách hàng không cần đến NH mà có thể ngồi tại nhà để thực hiện các giao dịch thông qua các kênh giao dịch hiện đại như: E- Banking, Home Banking, Smart banking, Internet banking… 1. Các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng Dịch vụ thanh toán trong nước 8 Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu thanh toán hàng hóa dịch vụ càng gia tăng. Với chức năng trung gian thanh toán, các NH là cầu nối giữa các chủ thể kinh tế, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các cách thu khác theo lệnh của họ. Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, các NHTM cung cấp các phương tiện thanh toán giúp cho khách hàng thực hiện các phương thức thanh toán.