Chương 1: Cơ sở lý luận về mở rộng cho vay khách hàng cá nhân Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng ~ Chỉ nhánh Đà Nẵng Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng ~ Chỉ nhánh Đà Nẵng 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Luận văn Thạc sĩ “Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam - CN Đà Nẵng", Tác giả Đăng Ngọc Việt, Đại học Đà Nẵng, 2012. Luận văn đã hệ thống hoá lý luận về mở rộng cho vay khách hàng cá nhân.
Dựa trên các tiêu chí đánh giá kết quả mở rộng cho vay khách hàng cá nhân, luận văn đã đánh giá kết quả mở rộng cho vay KHCN tại Chỉ nhánh VCB Đà Nẵng qua các năm từ 2009 - 2011. Tác giả cũng đã phân tích các biện pháp mà VCB Đà Nẵng đã triển khai nhằm mở rộng cho vay KHCN tại Chỉ nhánh. Đề tài nghiên cứu cũng đã tiến hành khảo sát khách hàng nhằm thu thập ý kiến của khách hàng về quá trình tiếp cận vay vốn tại ngân hàng, trong đó chú trọng vào các lĩnh vực chính có tác động trực tiếp đến việc vay vốn cũng như tìm ra các đặc điểm cơ bản của ngân hàng trong quá trình cho vay. Đề tài đã tổng kết những hạn chế cơ bản của NH trong mở rộng cho vay KHCN và qua đó đề xuất các giải pháp.
Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài là tại một Chỉ nhánh Ngân hàng có những đặc thù nhất định. Luận văn Thạc sĩ “Mở rộng tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam Chỉ nhánh Quảng Nam”, tác giả Nguyễn Trần Khôi An (2010), Đại học Đà Nẵng. “Trong luận văn này, tác giả đã thể hiện được vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc gia. Phát kinh tế tư nhân là định hướng tất yếu.
Tác giả nhận định về khả năng phát triển kinh tế tư nhân trong tương lai là khá lớn và đây là một thị trường đây tiềm năng để các ngân hàng mở rộng đầu tư vào đối tượng khách hàng này. Trên cơ sở lý luận và thực trạng kinh tế tư nhân tác giả đã mạnh dạn đưa ra các giải pháp về mở rộng kinh tế tư nhân trên địa bàn phù hợp với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài là kinh tế tư nhân. này có nội hàm khác với khái niệm khách hàng cá nhân mà đề tài đang nghiên cứu.
Luận văn thạc sĩ “Giải pháp đây mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tai NHNNo Quan Cảm Lệ, TP Đà Nẵng” tác giả Lê Nguyên Thảo (2012), Đại học Đà Nẵng Luận văn đã giải quyết được về cơ bản các mục tiêu nghiên cứu để ra bao gồm: Hệ thống hoá cơ sở lý luận về đây mạnh cho vay tiêu dùng; Đánh giá thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại NH, tông kết những thành công. và hạn chế trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại NH này; Đề xuất được các giải pháp nhằm đây mạnh cho vay tiêu dùng tại NH. Một số giải pháp cơ cơ sở thực tiễn. Tuy nhiên, vì dạng đề tài này đã được nhiều luận văn thạc sĩ đề cập nên những khám phá mới vẫn có chưa được thể hiện đầy đủ.
Việc phân tích thực trạng chủ yếu tập trung phân tích về cơ cấu và biến động cơ cấu cho vay tiêu dùng. Đề tài có điểm mới là phân tích các đặc điểm cơ bản của NH có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng. Luận văn thạc sĩ “Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ đối với khách hàng cá nhân tại Chỉ nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Kontum” của tác giả Võ thị Lệ Trinh (2012), Đại học Đà Nẵng. Trong đề tài này tác giả đã đề cập đến tất cả các dịch vụ bán lẻ của ngân hàng nhưng chủ yếu tập trung ở một số dịch vụ truyền thống.
Luận văn xuất phát từ cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ bán lẻ, các tiêu chí đánh giá kết quả phát triển dịch vụ bán lẻ của NH để phân tích, đánh giá quá trình phát triển dịch vụ bán lẻ của NH từ đó tổng kết những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế. Trên cơ sở đó, đẻ tài đã đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ bán lẻ tại Chỉ nhánh BIDV Kontum. Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định là quá rộng do đó, những kết luận rút ra và các giải pháp đề xuất vẫn chưa được chỉ tiết và cụ thê. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MO RONG CHO VAY KHACH HANG CA NHAN 1.
TONG QUAN VE HOAT DONG CHO VAY KHACH HANG CA NHÂN CỦA NHTM 1. Tín dụng ngân hàng a. Khái quát về tín dụng > Khái niệm tín dụng Tín dụng ra đời khi xã hội có sự phân công lao động và xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Mặt khác, do điều kiện thiên nhiên, điều kiện sản xuất luôn luôn có rủi ro đòi hỏi phải có sư vay mượn nhau để điều hoà cuộc sống.
Do vậy, hình thức tín dụng sơ khai bằng hiện vật xuất hiện. Tín dụng tổn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau, nhưng bat kỳ phương thức nào, tín dụng biểu hiện ra ngoài như là sự vay mượn lẫn nhau tạm thời một số tiền tệ. Như vậy Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, là sự chuyển nhượng quyên sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thoả thuận. Quan hệ kinh tế trên được thông qua vận động giá trị vốn tín dụng qua các giai đoạn: - Giai đoạn phân phối vốn Tín dụng: Ở giai đoạn này vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hoá được chuyển từ người này đến người khác, bằng hành vi cho vay và đi vay.
- Giai đoạn sử dụng vốn Tín dụng: Ở giai đoạn này vốn vay được sử dụng trực tiếp (nếu vay bằng hiện vật) hoặc vốn vay được sử dụng để mua. hang hoá (vay bằng tiền) để thoả mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay. Tuy nhiên, người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị đó, mà chỉ có quyền sử dụng tạm thời trong một thời - Giai đoạn hoàn trả vốn tín dụng: Là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng nghĩa là sau khi hoàn thành một chu kỳ sản xuất T-H-T để trở về hình thái tiền tệ, n tín dụng được người vay hoàn trả cho người cho vay. Từ khái niệm Tín dụng cho thấy bản chất tín dụng thể hiện qua các đặc trưng chủ yếu sau: ~ Quan hệ tín dụng là giao dịch chỉ chuyển dịch quyền sử dụng tài sản.
“Thông thường tín dụng chủ yếu là cho vay bằng tiền. Nhưng do nhu cầu của. người vay ngày càng đa dạng nên cần có sự đa dạng hoá trong hoạt động tín dụng của ngân hàng và đó cũng chính là cơ sở cho sự ra đời của các hình thức tín dụng như cho thuê vận hành, cho thuê tài chính bằng tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, văn phòng làm việt - Quan hệ tín dụng là quan hệ kinh tế dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi. Nghĩa là, các chủ thể trong nên kinh tế được cấp tín dụng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn và lãi cho bên cấp tín dụng khi đến hạn thanh toán.
- Quan hệ tín dụng là quan hệ dựa trên niềm tin vào khả năng hoàn trả của người đi vay. Khả năng trả nợ món vay một cách tốt nhất, được coi là thước đo mức độ tín nhiệm của người đi vay đối với người cho vay. Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan, có quá trình ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Nó phản ánh quan hệ vay mượn giữa các chủ thê dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
Theo đó, người cho vay sẽ chuyển giao quyền sử dụng của hàng hoá hoặc tiền tệ thuộc sở hữu của mình sang người vay và người vay có nghĩa vụ hoàn trả lại người cho vay một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu đã nhận. > Các loại hình tín dung Dựa vào chủ thể của quan hệ tín dụng, trong nền kinh tế - xã hội tồn tại các hình thức tín dung sau: ~_ Tín dụng thương mại Là quan hệ tín dụng giữa các công ty, xí nghiệp, các tổ chức kinh tế với nhau, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá cho nhau. Đây là hình thức tín dụng ra đời sớm nhất và là cơ sở cho các hình thức tín dụng khác. Tín dụng thương mại ra đời thúc đây sự phát triển mạnh của nền kinh tế hàng hoá, đây nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, đảm bảo tiến trình sản xuất kinh doanh được thực hiện liên tục.
Tín dụng thương mại là tín dụng giữa những người có nhu cầu sản xuất kinh doanh, có uy tín và mối quan hệ quen biết với nhau. Hơn nữa, tín dụng thương mại còn chịu ảnh hưởng vào sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất hàng hoá. - _ Tín dụng Ngân hàng Là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các tổ chức, cá nhân được thực hiện dưới hình thức: Ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) với các đối tượng trên. + Tin dụng nhà nước.
Là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các đơn vị và cá nhân được thực hiện dưới hình thức: Nhà nước sẽ đứng ra huy động vốn của các tổ chức, cá nhân bằng cách phát hành các trái phiếu, công trái để sử dụng vì mục đích và lợi ích chung của toàn xã hội. Tín dụng nhà nước có thể được thực hiện bằng hiện vật (như: thóc, gạo, trâu, bò,.) hoặc bằng hiện kim (tiền, vàng, bạc,.), nhưng bằng tiền là chủ yếu. Tín dụng nhà nước phát triển ở những nước có thị trường tài chính mạnh (đặc biệt là thị trường chứng khoán). ~ Tín dụng quốc tế Đây là quan hệ tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức tài chính tiền tệ được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm trợ giúp lẫn nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nước, như: việc vay mượn giữa các quốc gia, giữa các Ngân hàng hay các tổ chức tài chính ở các nước khác nhau,.