CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Lưu vực sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ hai ở phía Nam và đứng thứ ba toàn quốc, nằm trên vùng đất thuộc 11 tỉnh/thành bao gồm: Đắc Nông, Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh, Long An, Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu. Khu vực hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai là phần lưu vực được giới hạn từ phía sau các hồ chứa Trị An, Dầu Tiếng, Phước Hòa ra tới cửa biển thuộc vịnh Gành Rái, thuộc địa phận thuộc các tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương, TPHCM, Tây Ninh, Long An; tổng diện tích khu vực gần 14000 km2.
Khu vực hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai được xác định cụ thể như sau: - Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước và các huyện Tân Biên, Tân Châu thuộc tỉnh Tây Ninh. - Phía Đông giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và các huyện Long Khánh, Vĩnh Cửu thuộc tỉnh Đồng Nai. Phía Đông Nam giáp Biển Đông. - Phía Nam và Tây Nam giáp đồng bằng sông Cửu Long.
- Phía Tây giáp Cam Pu Chia và các huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng thuộc tỉnh Long An. Bản đồ khu vực hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai 5 1. Địa hình địa mạo Lưu vực sông Đồng Nai có địa hình thấp dần theo hai hướng chính là Bắc – Nam (thượng lưu xuống hạ lưu) và Tây Bắc – Đông Nam (vùng đồng bằng và ven biển). Một cách tổng quát, địa hình lưu vực rất đa dạng với 4 loại hình chính là vùng núi, trung du, đồng bằng và ven biển.
[13] Địa hình vùng núi phân bố chủ yếu ở thượng và trung lưu các dòng chính, chiếm gần 50% diện tích toàn lưu vực. Địa hình vùng trung du phân bố chủ yếu ở hạ lưu và trung lưu dòng chính Đồng Nai, trung và hạ lưu sông Bé, hạ lưu sông La Ngà, thượng lưu sông Sài Gòn. Địa hình vùng đồng bằng nằm ở hạ lưu tiếp giáp với đồng bằng sông Cửu Long và Biển Đông. Vùng phụ cận ven biển là một dãy đất hẹp chạy dọc theo bờ biển phía Đông dãy Trường Sơn, với các dãy núi nhô ra tận biển Đông tạo nên sự cắt xẻ riêng biệt tạo nên những đồng bằng nhỏ hẹp hạ lưu các con sông ngắn và dốc.
Địa chất thổ nhưỡng Cấu tạo địa chất lưu vực sông Đồng Nai là trầm tích Mezozoi và đá xâm nhập trong thời kỳ Đệ Tam đến Đệ Tứ. Trầm tích Mezozoi uốn khúc mạnh do các hoạt động tạo sơn với trục uốn có hướng Đông Bắc - Tây Nam và Tây Bắc - Đông Nam, phần lớn các đứt gãy và vết nứt qua phân tích ảnh vệ tinh cho thấy có xu thế tương tự. Tỉnh Đồng Nai chủ yếu có đất hình thành trên đá bazan; gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có độ phì cao chiếm 39.1% diện tích tự nhiên (229.416 ha), phân bố ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh, các loại đất có vấn đề (đất cát, đất mặn, đất phèn, đất trơ sỏi đá) chiếm gần 10% diện tích tự nhiên. Thảm phủ Lưu vực có loại hình sử dụng đất đa dạng, trong đó được chia làm 5 lớp bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở, chuyên dụng và nhóm đất khác.
Đất lâm nghiệp được phân bố tập trung ở một số khu vực rừng già hoặc tái sinh rậm rạp 6 như thượng nguồn sông Bé, trung lưu sông Đồng Nai đến trung lưu sông La Ngà, cuối trung lưu sông Đồng Nai (Vườn Quốc gia Cát Tiên có quy mô 73.878 ha, phần lớn thuộc tỉnh Đồng Nai 38.10 ha, Lâm Đồng 30.635 ha và Bình Phước 5.143 ha) và cuối sông Đồng Nai (rừng ngập mặn Cần Giờ có diện tích 77. Đây là những khu vực có thảm thực vật tốt với hệ sinh thái động thực vật còn phong phú. Khí hậu [13] Chế độ gió Tốc độ gió bình quân biến đổi trong khoảng 1.0 m/s, có xu thế tăng dần khi ra biển và giảm dần khi vào sâu trong đất liền. Tốc độ gió lớn nhất có thể đạt đến 20-25 m/s, xuất hiện trong bão và lốc xoáy.
Hàng năm, nhìn chung gió mạnh thường xuất hiện vào mùa khô từ tháng XI - IV và gió yếu hơn vào mùa mưa từ tháng VI - X. Tuy nhiên, do địa hình chi phối cũng có các trường hợp ngoại lệ như ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới. Chế độ mưa Lưu vực sông Đồng Nai có chế độ mưa phân bố phức tạp cả theo không gian lẫn thời gian. Về mặt thời gian: do tác động của hai mùa gió, mưa được phân thành hai mùa có lượng mưa tách biệt.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng V tới hết tháng X, có năm mưa sớm hơn vào nửa cuối tháng IV, với lượng mưa chiếm 80 - 90% lượng mưa cả năm, mưa lớn tập trung vào tháng 9 và tháng 10 hàng năm. Mùa khô kéo dài từ tháng XII đến tháng IV năm sau và hầu hết như không có mưa, nếu có cũng chỉ là các trận mưa nhỏ rải rác. Lượng mưa mùa khô chiếm khoảng 10 - 20% lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình nhiều năm là 2200 mm.
Về mặt không gian: sự khác biệt giữa lượng mưa các khu vực trong lưu vực là khá lớn, do sự cắt xẻ của địa hình, của sự phân chia các khu ven biển, cao nguyên và đồng bằng. Trong khi lượng mưa năm trung bình toàn vùng xấp xỉ 2200 mm, thì 7 có nơi chỉ đạt dưới 1000 mm. Chế độ nhiệt Chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ không khí trung bình năm toàn lưu vực khoảng 25.40C, nhiệt độ cao nhất 370C và nhiệt độ thấp nhất là 90C. Hàng năm, nhiệt độ thấp nhất rơi vào các tháng XII - I và nhiệt độ cao nhất thường rơi vào các tháng IV - V.
Độ ẩm Trung bình lưu vực có độ ẩm khá cao, do nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, độ ẩm trung bình năm đạt 82. Trong năm, mùa mưa có độ ẩm cao hơn nhiều so với mùa khô (85 - 88% và 70 - 75%). Độ ẩm tháng cao nhất có nơi đạt đến 91%. Độ ẩm tháng thấp nhất có nơi chỉ còn 65%.
Chế độ bốc hơi Do có nền nhiệt độ cao, nắng nhiều và lượng bốc hơi trên toàn lưu vực nhìn chung là khá lớn đạt trên dưới 1000 mm/ năm, tùy nơi. Bốc hơi có xu thế gia tăng ở vùng hạ lưu ven biển và vùng có cao độ thấp, đạt từ 1. Lượng bốc hơi khi tổn thất thêm do có hồ: 578 mm/năm. Chế độ nắng Lưu vực có số giờ nắng cao trung bình 2200 - 2400 giờ, từ 6 - 7 giờ/ngày.
Những nơi có độ ẩm thấp nhất cũng chính là nơi có số giờ nắng cao nhất, đạt từ 2700 - 2900 giờ. Ngược lại, nơi có độ ẩm cao là nơi cho số giờ nắng thấp hơn, chỉ còn từ 2000 - 2200 giờ. Trong năm, số giờ nắng vào mùa khô rất cao, trung bình 250 - 270 giờ/tháng, thời gian mùa mưa có số giờ nắng thấp hơn hẳn, trung bình 150 - 180 giờ/tháng. Mạng lưới sông ngòi và đặc điểm thủy văn Mạng lưới sông ngòi [13]: Sông Đồng Nai bắt nguồn từ vùng núi cao của cao nguyên Langbiang (Lâm 8 Viên) thuộc dãy Trường Sơn Nam, với độ cao khoảng 2000 m, gồm hai nhánh ở thượng nguồn là Đa Dung và Đa Nhim.
Sông có hướng chảy theo hai hướng chính; hướng Đông Bắc - Tây Nam chủ yếu ở trung và hạ lưu, hướng Tây Bắc- Đông Nam chủ yếu ở phần thượng lưu. Hệ thống sông Đồng Nai bao gồm dòng chính Đồng Nai và 4 sông nhánh là La Ngà, sông Bé, Sài Gòn và Vàm Cỏ. Dòng chính Đồng Nai có tổng chiều dài 628 km, kể từ thượng lưu Đa Nhim đến cửa Soài Rạp. Các chi lưu của nó nằm ở phần hạ lưu là sông Lòng Tàu, sông Đồng Tranh, sông Thị Vải và sông Soài Rạp.
Phần thượng lưu sông Đồng Nai gồm 2 nhánh Đa Nhim và Đa Dung. Phần trung lưu sông Đồng Nai được kể từ sau hợp lưu của Đa Nhim và Đa Dung đến thác Trị An, có chiều dài 190 km. Hạ trung lưu dòng chính sông Đồng Nai từ bãi Cát Tiên đến Trị An với chiều dài 138 km. Trên đoạn này sông còn có thêm các phụ lưu lớn bên trái là Đa Teh, Đạ Huoai và La Ngà.
Từ sau nhà máy thuỷ điện Trị An cho đến cửa Soài Rạp là phần hạ lưu sông, có chiều dài 150 km. Các phụ lưu chính chảy vào sông Đồng Nai ở hạ lưu về bên phải có sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ, bên trái hầu hết là các suối nhỏ mà đáng kể hơn cả là sông Lá Buông. Sông ngòi uốn khúc mạnh, theo thời gian địa hình bị cắt xẻ tạo thành các cù lao hay bán đảo, mặt cắt sông phần lớn có địa hình lòng chảo và có xu hướng mở rộng dần từ thượng lưu ra tới cửa biển. Đặc điểm thủy văn: Chế độ thuỷ văn trên lưu vực chịu sự chi phối chủ yếu của chế độ mưa nên cùng biến đổi rất sâu sắc theo không gian và thời gian.
Theo không gian, bên cạnh có những nơi lớp dòng chảy nhỏ, biến động cao, thì cũng có những nơi lớp dòng chảy ít biến động hơn. Theo thời gian, dòng chảy được phân chia thành hai mùa rõ rệt, với mùa lũ thường chậm hơn mùa mưa 1- 2 tháng và mùa kiệt thường trùng với mùa khô. Thời gian lũ của lưu vực sông Đồng Nai bắt đầu khá muộn so với mùa mưa, mùa mưa bắt đầu từ tháng V, sông mùa lũ chính thức bắt đầu từ tháng VII. Tháng 9 đỉnh lũ thường xảy ra ở tháng VIII - IX và đây cũng là tháng có lượng mưa tập trung lớn nhất.
Mùa kiệt bắt đầu vào khoảng tháng XII và kéo dài đến tháng V, VI năm sau, khoảng 6 tháng. Hàng năm lưu lượng kiệt nhất thường rơi vào hai tháng II và IV. Theo không gian, cũng như chế độ mưa chế độ dòng chảy trên lưu vực cũng có sự phân hóa rất sâu sắc. Khu vực hạ Đa Nhim cũng có mô đun từ 20 - 22 l/s.
Đây là những vùng cho hiệu suất dòng chảy kém nhất trong lưu vực Đồng Nai. Trung lưu sông Đồng Nai, thượng lưu sông La Ngà và thượng lưu sông Bé là các khu vực cho mô đun dòng chảy cao, từ 38 - 43 l/s. Đoạn sông Đồng Nai từ cửa sông đến phạm vi nội ô thành phố Biên Hoà và sông Sài Gòn, Vàm Cỏ có chế độ bán nhật triều. Hàng ngày có hai lần triều lên và hai lần triều xuống với chênh lệch rõ rệt mực nước của hai kỳ nước ròng.