Luận án về mô phỏng cấu trúc và cơ tính của hệ ôxit Al2O3, GeO2, SiO2

Chuyên đề nghiên cứu Mô phỏng cấu trúc và tính chất cơ học của hệ ôxit Al2O3, GeO2, SiO2, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia

Chuyên ngành

Vật Liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Cấu trúc của các hệ ôxit Al2O3, GeO2 và SiO2

1.1.1. Hệ Al2O3

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN

3. CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA ÁP SUẤT LÊN CẤU TRÚC CỦA CÁC HỆ ÔXIT Al2O3 VĐH, GeO2 VÀ SiO2 THỦY TINH

4. CHƯƠNG 4: CƠ TÍNH CỦA CÁC HỆ ÔXIT Al2O3 VĐH, GeO2 VÀ SiO2 THỦY TINH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cấu trúc và tính chất cơ học của hệ ôxit Al2O3 GeO2 SiO2

Nghiên cứu về ôxit nhôm (Al2O3), ôxit germanium (GeO2) và ôxit silic (SiO2) đã chỉ ra rằng các vật liệu này có cấu trúc tinh thể đặc trưng và tính chất cơ học quan trọng. Cấu trúc của Al2O3 thường tồn tại dưới dạng α-Al2O3, với cấu trúc corundum, trong khi GeO2 và SiO2 có cấu trúc thủy tinh. Các nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi áp suất nén có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc và tính chất cơ học của các vật liệu này. Cụ thể, áp suất nén làm thay đổi số lượng và loại liên kết giữa các nguyên tử, từ đó ảnh hưởng đến tính chất cơ học như độ cứng và độ bền. Sự chuyển pha từ cấu trúc tứ diện TO4 sang cấu trúc bát diện TO6 là một trong những hiện tượng quan trọng trong nghiên cứu này.

1.1. Cấu trúc tinh thể của Al2O3

Al2O3 có nhiều dạng thù hình khác nhau, trong đó α-Al2O3 là dạng bền nhiệt động học. Cấu trúc của nó được đặc trưng bởi sự sắp xếp của các nguyên tử O trong cấu trúc lục giác xếp chặt (hcp) và các nguyên tử Al nằm ở tâm khối tám mặt. Các nghiên cứu cho thấy rằng ở áp suất thường, Al2O3 VĐH có cấu trúc mạng tứ diện với độ dài liên kết Al-O khoảng 1,8 Å. Sự thay đổi mật độ cũng ảnh hưởng đến số phối trí Al-O, từ 4 ở mật độ thấp đến 6 ở mật độ cao.

1.2. Tính chất cơ học của GeO2 và SiO2

GeO2 và SiO2 có tính chất cơ học đặc trưng, với độ bền và độ cứng cao. Nghiên cứu cho thấy rằng áp suất nén làm thay đổi cấu trúc và tính chất cơ học của chúng. Cụ thể, trong quá trình nén, các liên kết giữa các nguyên tử O và T (Ge hoặc Si) có sự thay đổi đáng kể, dẫn đến sự thay đổi trong độ bền và độ cứng của vật liệu. Sự xuất hiện của các đỉnh phụ trong hàm PBXT cặp O-O cũng cho thấy sự thay đổi cấu trúc của các vật liệu này dưới áp suất cao.

II. Phương pháp mô phỏng và phân tích

Phương pháp mô phỏng động lực học phân tử (ĐLHPT) được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc và tính chất cơ học của các hệ ôxit. Các phương pháp phân tích như hàm phân bố xuyên tâm (PBXT), phân bố góc liên kết và số phối trí được áp dụng để đánh giá sự thay đổi cấu trúc dưới tác động của áp suất nén. Kỹ thuật trực quan hóa cũng được sử dụng để hình dung cấu trúc và sự phân bố của các quả cầu lỗ hổng trong các vật liệu. Những phương pháp này cho phép xác định rõ ràng các đặc trưng cấu trúc và cơ tính của các hệ ôxit, từ đó đưa ra những kết luận quan trọng về mối quan hệ giữa cấu trúc và tính chất cơ học.

2.1. Mô phỏng động lực học phân tử

Mô phỏng ĐLHPT cho phép nghiên cứu sự tương tác giữa các nguyên tử trong các hệ ôxit. Phương pháp này giúp xác định các thông số cấu trúc như độ dài liên kết và góc liên kết, từ đó đánh giá sự thay đổi cấu trúc dưới tác động của áp suất nén. Kết quả mô phỏng cho thấy sự chuyển đổi giữa các đơn vị cấu trúc AlOx (x=4,5,6) diễn ra dưới áp suất nén, ảnh hưởng đến tính chất cơ học của vật liệu.

2.2. Phân tích cấu trúc và tính chất cơ học

Các phương pháp phân tích như PBXT và phân bố góc liên kết được sử dụng để đánh giá sự thay đổi cấu trúc của các hệ ôxit. Kết quả cho thấy rằng áp suất nén làm thay đổi đáng kể cấu trúc và tính chất cơ học của các vật liệu. Sự xuất hiện của các đỉnh phụ trong hàm PBXT cặp O-O cho thấy sự thay đổi cấu trúc của các vật liệu này dưới áp suất cao, từ đó ảnh hưởng đến tính chất cơ học như độ bền và độ cứng.

III. Ảnh hưởng của áp suất nén lên cấu trúc

Áp suất nén có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc của các hệ ôxit Al2O3, GeO2 và SiO2. Nghiên cứu cho thấy rằng khi áp suất nén tăng, cấu trúc của các vật liệu này chuyển từ dạng tứ diện TO4 sang dạng bát diện TO6. Sự thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc mà còn tác động đến tính chất cơ học của vật liệu. Cụ thể, độ dài liên kết và số phối trí giữa các nguyên tử cũng thay đổi, dẫn đến sự thay đổi trong độ bền và độ cứng của vật liệu. Các hiện tượng như tách đỉnh trong hàm PBXT cặp Si-Si và sự xuất hiện đỉnh phụ trong hàm PBXT cặp O-O cũng được ghi nhận.

3.1. Sự chuyển pha trong Al2O3

Trong Al2O3, sự chuyển pha từ cấu trúc tứ diện sang bát diện diễn ra dưới tác động của áp suất nén. Nghiên cứu cho thấy rằng khi áp suất tăng, độ dài liên kết Al-O thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến tính chất cơ học của vật liệu. Sự xuất hiện của các đỉnh phụ trong hàm PBXT cặp O-O cho thấy sự thay đổi cấu trúc của Al2O3 dưới áp suất cao.

3.2. Ảnh hưởng của áp suất nén lên GeO2 và SiO2

GeO2 và SiO2 cũng cho thấy sự thay đổi cấu trúc dưới tác động của áp suất nén. Sự chuyển đổi giữa các đơn vị cấu trúc GeOx và SiOx diễn ra, ảnh hưởng đến tính chất cơ học của các vật liệu này. Các nghiên cứu cho thấy rằng áp suất nén làm tăng độ bền và độ cứng của GeO2 và SiO2, đồng thời làm thay đổi số lượng và loại liên kết giữa các nguyên tử.

IV. Tính chất cơ học của hệ ôxit

Tính chất cơ học của các hệ ôxit Al2O3, GeO2 và SiO2 được đánh giá thông qua các chỉ số như mô đun I-âng và ứng suất. Nghiên cứu cho thấy rằng áp suất nén có ảnh hưởng lớn đến các chỉ số này. Cụ thể, mô đun I-âng của các vật liệu tăng lên khi áp suất nén tăng, cho thấy sự cải thiện trong độ bền và độ cứng của vật liệu. Sự phân bố ứng suất và ứng xử biến dạng của các vật liệu cũng được nghiên cứu, từ đó đưa ra những kết luận quan trọng về mối quan hệ giữa cấu trúc và tính chất cơ học.

4.1. Mô đun I âng của Al2O3 GeO2 và SiO2

Mô đun I-âng của Al2O3, GeO2 và SiO2 được xác định thông qua các phương pháp mô phỏng và thực nghiệm. Kết quả cho thấy rằng mô đun I-âng của các vật liệu này tăng lên khi áp suất nén tăng, cho thấy sự cải thiện trong độ bền và độ cứng của vật liệu. Sự thay đổi này có liên quan đến sự chuyển đổi giữa các đơn vị cấu trúc và sự thay đổi trong số lượng liên kết giữa các nguyên tử.

4.2. Ứng xử biến dạng của vật liệu

Ứng xử biến dạng của các vật liệu Al2O3, GeO2 và SiO2 dưới tác động của áp suất nén được nghiên cứu chi tiết. Kết quả cho thấy rằng áp suất nén làm thay đổi phân bố ứng suất và ứng xử biến dạng của các vật liệu. Sự xuất hiện của các quả cầu lỗ hổng O-void cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình biến dạng, ảnh hưởng đến tính chất cơ học của vật liệu.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Trong chương này, Luận án trình bày tổng quan về một số kết quả nghiên cứu hiện nay về cấu trúc và cơ tính của các vật liệu ôxit Al2O3, GeO2 và SiO2. Cấu trúc của các hệ ôxit Al2O3, GeO2 và SiO2 1. Hệ Al2O3 Nhôm ôxit Al2O3 (alumina) là một trong số những vật liệu gốm quan trọng và có một số tính chất đặc trưng như độ cứng cao (9 Moh), nhiệt độ nóng chảy cao (2327K) và độ dẫn điện thấp (10-12 S/m ở 20 °C). Do vậy, alumina thường được dùng như một chất cách điện và cách nhiệt rất tốt, ngoài ra còn được sử dụng làm các vật liệu mài mòn như thành phần của các thiết bị cắt.

Nhôm ô xít được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như điện tử, quang học, cơ khí, y sinh hay làm chất xúc tác. Al2O3 có nhiều dạng thù hình khác nhau như: α-Al2O3, γ-Al2O3, η-Al2O3, δ- Al2O3, θ-Al2O3, κ-Al2O3 và Al2O3 VĐH. Tuy nhiên, chỉ có một pha bền nhiệt động học ở dạng khối là α-Al2O3. Tinh thể α-Al2O3 có cấu trúc corundum, trong đó các nguyên tử O sắp xếp trong cấu trúc lục giác xếp chặt (hcp) còn các nguyên tử Al nằm ở tâm khối tám mặt và bao quanh bởi 6 nguyên tử O.

Các dạng thù hình còn lại là các pha không bền, có mật độ nhỏ hơn mật độ của corundum và còn được xem là các pha trung gian trong quá trình chuyển pha của alumina. Trong quá trình xử lý nhiệt, pha bền vững α-Al2O3 được tạo thành từ các pha trung gian theo thứ tự sau: Al2O3 VĐH →(5730C) γ-Al2O3→ (7500C) δ-Al2O3→ (9300C) θ-Al2O3→(10300C) α-Al2O3. Các pha không bền được chia thành hai loại cấu trúc dựa trên sự sắp xếp của các nguyên tử O – đó là cấu trúc lập phương tâm mặt (fcc) như: γ- Al2O3, η- Al2O3, δ- Al2O3, θ- Al2O3 và cấu trúc hcp như κ-Al2O3, χ- Al2O3. Trong các pha tinh thể này, các nguyên tử Al nằm ở vị trí có số phối trí tứ diện hoặc bát diện.

Các pha tinh thể này khác nhau ở sự sắp xếp hay tỉ lệ phân bố của các nguyên tử Al và các vị trí cation bị trống. Tinh thể γ-Al2O3 có cấu trúc spinel không hoàn hảo với một số vị trí khuyết của cation, các vị trí khuyết này phân bố ngẫu nhiên trong mạng O. Trong cấu trúc này, các nguyên tử Al có số phối trí 4 và 6 lần lượt chiếm 37,5% và 63,5%. Trong khi đó với 13 pha κ-Al2O3 thì tỉ phần này lần lượt bằng 25% và 75%.

Cấu trúc của Al2O3 VĐH cũng như pha lỏng đã được nghiên cứu ở nhiều công trình thực nghiệm và mô phỏng [1,2,3,4]. Các nghiên cứu này đều chỉ ra ở áp suất thường, Al2O3 VĐH hay pha lỏng đều có cấu trúc mạng tứ diện với độ dài Al-O khoảng 1,8 Å và góc bên trong tứ diện bằng 109,50. Các tứ diện AlO4 liên kết với nhau chủ yếu bằng cách chia sẻ một nguyên tử O chung (liên kết chung góc) với góc giữa các tứ diện khoảng 1250 [3]. Số phối trí Al-O phụ thuộc mạnh vào mật độ [1,2], có giá trị bằng 4 ở mật độ thấp nhưng tăng lên 6 ở mật độ cao [5,6].

Điều này chứng tỏ sự chuyển pha từ cấu trúc mạng tứ diện sang cấu trúc mạng bát diện trong pha lỏng và VĐH. Quá trình này xảy ra dưới tác dụng của áp suất nén ở trạng thái lỏng [7] và VĐH [8] trong khoảng mật độ từ 3,6 g. Đây là quá trình không thuận nghịch và cũng không có bằng chứng cho rằng đây là quá trình chuyển pha loại I [8]. Cấu trúc địa phương trong mạng Al2O3 lỏng hay VĐH chịu ảnh hưởng đáng kể của áp suất nén, thể hiện ở sự thay đổi các khoảng cách liên kết và các góc liên kết.

Công trình mô phỏng Al2O3 VĐH ở các mật độ khác nhau [9] cho thấy khi mật độ tăng từ 3,175 g.cm-3, vị trí đỉnh trong hàm PBXT cặp Al-O di chuyển sang phải tương ứng với sự tăng của chiều dài liên kết Al-O từ 1,76 Å đến 1,79 Å. Trong khi đó, độ dài Al-Al và O-O lại giảm đi khi áp suất tăng. Kết quả này tương tự với công bố trong công trình mô phỏng khác [8], tuy nhiên theo nghiên cứu [8] thì độ dài Al-O tăng nhẹ rồi giảm theo áp suất. Nguyên nhân có thể do việc sử dụng thế tương tác khác nhau.

Với phương pháp mô phỏng nguyên lý ban đầu, công trình [10] cho hệ Al2O3 lỏng lại chỉ ra các độ dài Al-Al, Al-O, O-O đều giảm khi áp suất tăng nhưng độ dài Al-Al và O-O giảm 15% trong khi khoảng cách Al-O chỉ giảm 4% khi áp suất tăng từ 2 GPa đến 150 GPa. Điều này chứng tỏ trật tự tầm trung trong Al2O3 lỏng dễ thay đổi dưới áp suất nén hơn là trật tự gần. Cũng trong công trình này, các tác giả đã nhận thấy sự xuất hiện của một đỉnh phụ bên cạnh đỉnh chính trong hàm PBXT cặp gO-O(r) khi áp suất nén lớn hơn 10GPa. Tác giả suy luận sự xuất hiện đỉnh mới này là do các nguyên tử O có sự sắp xếp lại cấu trúc khi nén ở áp suất lớn.

Tuy nhiên các nguyên tử O được sắp xếp theo trật tự cấu trúc nào thì chưa được đề cập đến và cũng chưa có sự giải thích rõ ràng. Về hiện tượng này, các tác giả trong 14 công trình [8] cho rằng khi mật độ mẫu tăng lên, cấu trúc trong Al2O3 lỏng thay đổi gần với cấu trúc xếp chặt (close packed-like structure) thể hiện ở sự xuất hiện đỉnh thứ hai trong hàm PBXT cặp O-O và sự giảm độ dài liên kết O-O và Al-Al. Sự thay đổi độ dài liên kết Al-O trung bình trong Al2O3 khi áp suất nén tăng chủ yếu là do sự chuyển đổi giữa các ĐVCT AlOx (x=4,5,6) và sự nén của khối đa diện. Khoảng cách Al-O trong các ĐVCT AlO4, AlO5 và AlO6 lần lượt bằng 1,76 Å, 1,83 Å và 1,88 Å [11].

Do đó, sự thay đổi tỉ phần các ĐVCT dẫn tới độ dài liên kết trung bình Al-O tăng theo áp suất. Khi khối đa diện được duy trì trong mẫu trong quá trình nén, áp suất có tác dụng nén làm cho độ dài Al-O trong các ĐVCT có xu hướng giảm xuống. Bằng phương pháp nguyên lý ban đầu, Wenhui Duan và các cộng sự [12] đã chỉ ra độ dài liên kết trong các khối bát diện AlO6 ở các cấu trúc tinh thể như α-Al2O3 và kiểu Rh2O3(III) đều giảm khi áp suất nén tăng lên. Tuy nhiên, công trình cho Al2O3 VĐH [13] lại chỉ ra độ dài liên kết Al-O trong các khối đa diện AlOx (x=4,5,6) hầu như không đổi dưới áp suất nén.

Sự thay đổi cấu trúc trật tự gần trong Al2O3 dưới áp suất nén cũng được đánh giá thông qua sự biến đổi của liên kết góc O-Al-O. Trong công trình [8], Al2O3 lỏng ở mật độ 2,8 g.cm-3, phân bố góc O-Al-O có một đỉnh ở 102o và đỉnh này di chuyển về phía giá trị nhỏ hơn khi mật độ tăng lên. Khi mật độ tăng đến 4,5g.cm-3, vị trí đỉnh này ở xung quanh vị trí 800. Xu hướng này xảy ra tương tự với pha VĐH [9].

Sự dịch chuyển này tương ứng với sự chuyển đổi từ cấu trúc AlO4 sang cấu trúc AlO6 do cấu trúc hình học của các đa diện ít thay đổi theo áp suất [14]. Ảnh hưởng của áp suất nén lên cấu trúc Al2O3 còn thể hiện ở sự thay đổi góc liên kết Al-O-Al và các liên kết cầu O. Các liên kết này mô tả sự kết nối giữa các ĐVCT, liên quan đến trật tự khoảng trung trong mạng Al2O3.cm- 3 , phân bố góc Al-O-Al có một đỉnh nhỏ ở 900 và một đỉnh chính ở 1200 tương ứng với hai cách thức liên kết giữa 2 đa diện: liên kết chung cạnh (liên kết giữa hai nguyên tử Al cùng chia sẻ hai nguyên tử O) và chung góc (hai nguyên tử Al cùng chia sẻ một nguyên tử O) [9]. Khi mật độ tăng lên, độ cao của đỉnh nhỏ tăng trong khi đó độ cao đỉnh lớn giảm ứng với sự tăng lên của liên kết chung cạnh và sự giảm xuống của liên kết chung góc.

Như vậy, khi mật độ tăng, hệ thay đổi từ cấu trúc mạng tứ diện với liên kết chung góc chủ yếu sang cấu trúc mạng bát diện với sự xuất hiện của liên kết chung cạnh và chung mặt (hai nguyên tử Al cùng chia sẻ ba nguyên tử O). Sự phụ 15 thuộc vào áp suất nén của tỉ phần các liên kết chung góc, chung cạnh và chung mặt trong Al2O3 hệ lỏng cũng được khảo sát trong công trình [13]. Tuy nhiên, tác giả chỉ tính trong các liên kết giữa các ĐVCT AlO4 và AlO5. Do những tồn tại ở trên mà trong Luận án, chúng tôi khảo sát ảnh hưởng của áp suất nén lên cấu trúc của Al2O3 VĐH.

Trong đó, sự thay đổi cấu trúc và độ dài liên kết trong các đa diện được phân tích chi tiết. Ngoài ra, cấu trúc trật tự mới của các nguyên tử O trong quá trình nén cũng được nhận diện. Phân bố các liên kết O cầu giữa tất cả các ĐVCT cũng được tính toán ở đây. Hệ SiO2 và hệ GeO2 Ôxit silíc (SiO2) hay Silica là một trong những thành phần chính của lớp vỏ Trái đất.

Do có độ cứng cao, nhiệt độ nóng chảy cao và trơ về mặt hoá học vật liệu silica được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như khoa học vật liệu và địa chất. Trong ngành vật liệu, silica thường được dùng để chế tạo thủy tinh, bê tông, sợi quang và cũng là thành phần quan trọng trong vật liệu gốm sứ. Trong ngành địa chất, việc nghiên cứu các dạng thù hình của silica ở điều kiện nhiệt độ và áp suất cao có ý nghĩa to lớn góp phần nhận biết những phản ứng xảy ra trong lòng trái đất. Ôxit giécmani (GeO2) có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực như khoa học vật liệu và địa chất tương tự SiO2.

Hơn nữa, GeO2 còn có cấu trúc và nhiều tính chất tương đồng SiO2, vì vậy cùng với SiO2, GeO2 cũng là đối tượng thu hút các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Hai loại vật liệu này đã được nghiên cứu rộng rãi bằng các kĩ thuật thực nghiệm như nhiễu xạ tia X, nhiễu xạ nơ tron, cộng hưởng từ hạt nhân và mô phỏng ĐLHPT. Ở áp suất thường, tinh thể SiO2 có các dạng thù hình chính như quartz, tridymite và crystobalite. Các pha này đều có cấu trúc tứ diện trong đó nguyên tử Si được bao quanh bởi bốn nguyên tử O với độ dài cạnh Si-O nằm trong khoảng tử 1,52 Å đến 1,69 Å và góc O-Si-O bằng 109,180.

Các tứ diện SiO4 kết nối với nhau bằng liên kết chung góc với góc Si-O-Si thay đổi từ 1200 đến 1800, phụ thuộc vào mỗi dạng thù hình khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về mô phỏng cấu trúc và cơ tính của hệ ôxit Al2O3, GeO2, SiO2" tập trung vào việc nghiên cứu và mô phỏng các đặc tính cấu trúc và cơ học của các hệ ôxit quan trọng trong lĩnh vực vật liệu. Luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tính chất của các vật liệu ôxit mà còn mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng chúng trong công nghệ hiện đại. Đặc biệt, nghiên cứu này có thể giúp cải thiện hiệu suất và độ bền của các vật liệu trong nhiều ứng dụng khác nhau.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực vật liệu, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman, nơi nghiên cứu về cấu trúc nano và ứng dụng của nó trong nhận diện phân tử hữu cơ. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ: Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các vật liệu composite và tính chất quang học của chúng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính, một lĩnh vực liên quan đến vật liệu và ứng dụng của chúng trong công nghệ hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các nghiên cứu trong lĩnh vực vật liệu.