chương 1, điều 3 xác định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. Ô nhiễm môi trường là gì? Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “ Ô nhiễm môi trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưỏng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường”. Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm… để thỏa mãn nhu cầu của mình. Nông nghiệp thao nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp, ngư.
Như vậy, Nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời… trược tiếp ảnh hưởng đến năng xuất cây trồng vậy nuôi. Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng xuất lao động rất thấp, vì đây là nghành sản xuất phụ thuộc vào n 5 thiên nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng khoa học – công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác còn thô sơ và lạc hậu. Khái niệm về tiêu chuẩn môi trường Là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường.
Khái niệm về bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành sạch sẽ, phòng ngừa hạn chế các tác động xấu tới môi trường, ứng phó sự cố môi tường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. Khái niệm phế phụ phẩm nông nghiệp Phế phụ phẩm nông nghiệp: Là những sản phẩm nông nghiệp không đạt tiêu chuẩn về kích thức, phẩm chất, giá trị sử dụng… đã quy định, phải loại bỏ nhằm đảm bảo yêu cầu sử dụng hoặc chế biến. phụ phẩm nông nghiệp đều là những chất hữu cơ, có thể non xanh; có thể sơ cứng vì silic hoá như trấu hay ligin hoá như gỗ. Chúng còn có thể được xem như là một dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá trình tổng hợp và các quá trình sinh học khác trong nông nghiệp [7] 2.
Ảnh hưởng của rác thải nông nghiệp đến môi trường - Với môi trường không khí Các loại rác thải nông nghiệp trong quá trình phân hủy sinh học đều phát sinh ra các loại khí như H2S, NH3, CH4, SO2, CO2… khi ngửi phải các loại khí này con người thường bị kích thích đường hô hấp, đau đầu, viêm kết mạc, mất ngủ, đau mắt, suy hô hấp. Với nồng độ cao chúng làm cản trở sự vận chuyển oxy, làm hại các mô thần kinh, thậm chí gây tử vong. n 6 - Với môi trường đất Trong thành phần rác thải nông nghiệp có chữa nhiều chất độc khi tích trữ nhiều sẽ gây biến đổi các thành phần trong môi trường đất gây ô nhiễm môi trường đất ngăn cản sự sống, sự phát triển của nhiều loại vi sinh vật có ích như: giun, vi sinh vật, động vật không xương sống,. Làm giảm tính đa dạng sinh học trong môi trường đất và làm phát triển các loại gặm nhấm, sâu bọ phá hoại cây trồng các loại côn trùng gây bệnh cho người và gia xúc như ruồi, muỗi… - Với môi trường nước Theo thói quen người dân thường đổ rác tại bờ suối, ao, hồ, cống, rãnh.
Lượng rác này sau khi phân hủy sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực. Mặt khác lâu dần những loại rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nước gây cản trở dòng chảy, tắc ống thoát nước. Hậu quả là các hệ sinh thái trong ao hồ bị hủy diệt, gây ô nhiễm nguồn nước và phát sinh nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm như tiêu chảy, tả lị trực khuẩn, thương hàn… ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng [8] 2. Cơ sở pháp lý trong xử lý chất thải và xử lý môi trường - Căn cứ luật BVMT 2014 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/06/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015 - Căn cứ nghị định 19/2015/NĐ – CP ngày 14/02/2015 của chính phủ về quyết định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều lật BVMT - Căn cứ nghị định 21/2008/NĐ –CP ngày 28/02/2008 của chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ – CP.
- Căn cứ nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 09/04/2007 của chính phủ về quản lý chất thải rắn. - Căn cứ thông tư 199/TT – CP ngày 03/04/1997 về những biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp. n 7 - Căn cứ thông tư số 13/2007TT –BXD ngày 31/12/2007 của bộ xây dựng về hướng dẫn một số điều của nghị định 59/2007NĐ – CP ngày 09/04/2007 của chính phủ về quản lý chất thải rắn. - Căn cứ quyết định 17/2011/ QĐ – BXD ngày 07/08/2011 của bộ trưởng bộ xây dựng ban hành định mức dự toán chuyên ngành vệ sinh môi trường – công tác thu gom, xử lý rác.
- Căn cứ quyết định số 1630/QĐ – BTNMT ban hành ngày 01/10/2012 của Bộ Tài nguyên Môi trường quy định về việc ban hành danh mục chế phẩm sinh học được lưu hành trong xử lý chất thải tại Việt Nam. - Căn cứ công văn số 1384/BXD ngày 08/09/2004 về quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp. - TCVN 6696 – 2000 chất thải rắn – bãi chôn lấp hợp vệ sinh – yêu cầu chung về bảo vệ môi trường. Thực trạng chất thải nông nghiệp tại Việt Nam Trên thế giới cũng như ở nước ta, phế thải nông nghiệp nếu không được xử lý, tái chế sẽ là hiểm họa lớn.
Nó sẽ làm ô nhiễm nặng nề môi trường sản xuất và môi trường sống, độc hại đối với con người, ô nhiễm đất đai, bầu không khí và góp phần không nhỏ biến đổi khí hậu toàn cầu. Nó sẽ gây nên những dịch bệnh lớn và dai dẳng sẵn sàng bùng phát ở người, gia súc, cây trồng, làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm cảnh quan, thiên nhiên, là thách thức lớn đến sự phát triển bền vững. Thực tế trong sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt nông thôn ở nước ta hiện nay xác định điều đó, như gây ô nhiễm nặng nề và phổ biến ở các vùng, cơ sở chăn nuôi tập trung, ở các làng nghề. Ô nhiễm nguồn nước và khu dân cư nông thôn.
Sự bất lực trong xử lý rác và ô nhiễm rác ở đô thị cũng như nông thôn, nhiều khi dẫn đến xung đột xã hội. Riêng nạn đốt rơm rạ vừa gây ô nhiễm, vừa lãng phí, vừa tác hại xấu đến sản xuất, tiêu diệt thiên địch. n 8 Kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi ha lúa sau thu hoạch để lại rơm rạ chứa 180-200 kg N-P-K nguyên chất tương đương giá trị 5-6 triệu đồng. Nếu chỉ tính 4 triệu ha lúa vùng sản xuất trọng điểm thì đó đã là một giá trị khổng lồ, khoảng 20 ngàn tỷ đồng.
Hàng năm có khoảng 50 triệu tấn rơm khô, 8 triệu tấn trấu, 30-50 triệu phế thải thực vật, 75 triệu tấn chất thải rắn chăn nuôi, tổng cộng khoảng 150 đến 200 triệu tấn rơm, phế thải nông nghiệp ở nước ta có thể gây hiểm họa ô nhiễm môi trường khôn lường nhưng cũng có thể là nguồn tài nguyên, nguyên liệu khổng lồ và quý giá để tạo ra các sản phẩm phục vụ sản xuất và đời sống. Đáng chú ý là khối Biomas này ngày càng tăng, ước tính 15-20% năm.[16] Thực trạng công tác quản lý CTR năm 2008 3.7% CTR phát sinh từđô thị CTR phát sinh từhđ 33.9% sản xuất công nghiệp CTR từnông nghiệp, nông thôn 17.2% CTR từhđy tế Hình 2. Công tác quản lý CTR năm 2008 Thực trạng công tác quản lý năm 2008 - CTR phát sinh từ các đô thị ≈ 46%; - CTR phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp ≈ 17% - CTR nông nghiệp, nông thôn ≈ 33% - Y tế ≈ 4% n 9 Dự báo thực trạng công tác quản lý CTR năm 2015 CTR phát sinh từđô thị CTR phát sinh từhđsản xuất công nghiệp 4,1% CTR phát sinh từnông nghiệp, nông thôn 23% CTR phát sinh từhđy tế 50,8% 22,1% Hình 2.Dự báo công tác quản lý CTR năm 2015 Dự báo đến năm 2015, tỷ trọng: - CTR phát sinh từ các đô thị≈ 51%; - CTR phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp ≈ 22% - CTR phát sinh từ nông nghiệp, nông thôn 23% - Y tế ≈ 4% 2. Hiêṇ tra ̣ng phát sinh , thu gom và xƣ̉ lý CTR trên thế giới và Viêṭ Nam 2.
Tình hình phát sinh, thu gom và xử lý chấ t thải rắ n trên thế giới Theo Nguyễn Thi ̣Oanh Hoa [1] trên thế giới ở mô ̣t số nước có mô hiǹ h thu gom, phân loa ̣i và xử lý rác thải rấ t hiê ̣u quả: 1. Nhâ ̣t Bản: Theo số liê ̣u của cu ̣c Y tế và Môi sinh Nhâ ̣t Bản , hàng năm nước này có khoảng 450 triê ̣u tấ n rác thải , trong đó 12% là rác thải sinh hoạt. Trong tổ ng số rác thải trên , chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn n 10 lấ p trên 36% đươ ̣c đưa đế n các nhà máy để tái chế. Số còn la ̣i đươ ̣c xử lý bằ ng cách đốt, hoă ̣c chôn lấ p ta ̣i các nhà máy xử lý rác.
Chi phí cho viê ̣c xử lý rác hàng năm tiń h theo đầ u người khoảng300 nghìn Yên (khoảng 2. Như vâ ̣y lươ ̣ng rác thải của Nhâ ̣t Bản rấ t lớn nế u không tái xử lý kip̣ thời thimôi ̀ trường số ng sẽ bi ̣ảnh hưởng nghiêm tro ̣ng. Hiê ̣n nay, tại các thành phố của Nhật Bản , chủ yếu sử dụng công nghệ đố t để xử lý nguồ n rác thải khó phân hủy .