Mô hình và các yếu tố nguy cơ đến dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Nghiên cứu mô hình và yếu tố nguy cơ gây dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương, cung cấp thông tin hữu ích cho y tế.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nhi khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ y học

2022

96
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Phôi thai học ống tiêu hóa bình thường

1.2. Thời điểm phát sinh dị tật bẩm sinh ống tiêu hóa

1.3. Các loại dị tật bẩm sinh ống tiêu hóa thường gặp

1.3.1. Teo thực quản bẩm sinh

1.3.2. Hẹp phì đại môn vị

1.3.3. Tắc tá tràng bẩm sinh

1.3.4. Teo hỗng tràng - hồi tràng

1.3.5. Ruột quay dở dang

1.3.6. Dị tật hậu môn – trực tràng

1.4. Một số yếu tố nguy cơ đến dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh

1.4.1. Một số yếu tố của cha mẹ

1.4.2. Yếu tố tâm lý, tinh thần

1.4.3. Yếu tố môi trường

1.4.4. Các tác nhân sinh vật học

1.4.5. Nguyên nhân di truyền đa nhân tố

1.4.6. Yếu tố di truyền

1.5. Tình hình nghiên cứu dị tật ống tiêu hóa và những vấn đề tồn tại

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Nhóm biến số nghiên cứu

2.4. Phương pháp thu thập số liệu

2.5. Xử lí số liệu

2.6. Giới hạn của nghiên cứu. Hạn chế các sai số

2.7. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

3.2. Tỷ lệ trẻ dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh

3.2.1. Tỷ lệ các loại dị tật ống tiêu hóa

3.2.2. Phân loại dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh theo kết quả phẫu thuật

3.2.3. Phối hợp dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh và các cơ quan khác

3.2.4. Phân bố phối hợp dị tật các cơ quan khác với từng loại DTOTH

3.3. Chẩn đoán ở bệnh viện tuyến trước và bệnh viện Nhi Trung ương

3.4. Thời điểm chẩn đoán xác định theo các loại dị tật ống tiêu hóa

3.5. Liên quan giữa tuổi thai và dị tật ống tiêu hóa

3.6. Liên quan giữa cân nặng thấp và dị tật ống tiêu hóa

3.7. Một số yếu tố nguy cơ đến dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh

3.7.1. Một số yếu tố nguy cơ về phía con

3.7.2. Một số yếu tố nguy cơ về phía mẹ

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại bệnh viện nhi trung ương

Dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh là một trong những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ở trẻ em. Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ mắc dị tật này đang gia tăng, gây ra nhiều thách thức trong chẩn đoán và điều trị. Nghiên cứu cho thấy, dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh có thể dẫn đến các biến chứng nặng nề nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Theo thống kê, tỷ lệ dị tật này chiếm khoảng 13,92% trong tổng số dị tật bẩm sinh tại Việt Nam.

1.1. Định nghĩa và phân loại dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh

Dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh được định nghĩa là những bất thường trong cấu trúc và chức năng của ống tiêu hóa. Các loại dị tật thường gặp bao gồm teo thực quản, hẹp phì đại môn vị, và tắc tá tràng. Mỗi loại dị tật có những đặc điểm và phương pháp điều trị riêng biệt.

1.2. Tình hình nghiên cứu dị tật ống tiêu hóa tại Việt Nam

Nghiên cứu về dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại Việt Nam còn hạn chế. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc dị tật này có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng miền. Các yếu tố như tuổi mẹ, tình trạng sức khỏe và môi trường sống có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc.

II. Các yếu tố nguy cơ đến dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh

Nhiều yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh. Các yếu tố này bao gồm yếu tố di truyền, môi trường và thói quen sinh hoạt của mẹ trong thai kỳ. Việc nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ này có thể giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc dị tật.

2.1. Yếu tố di truyền và dị tật ống tiêu hóa

Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát sinh dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh. Nghiên cứu cho thấy, trẻ có cha mẹ có tiền sử mắc dị tật bẩm sinh có nguy cơ cao hơn. Các gen liên quan đến sự phát triển của ống tiêu hóa có thể bị đột biến, dẫn đến các dị tật.

2.2. Ảnh hưởng của môi trường đến dị tật bẩm sinh

Môi trường sống và các yếu tố bên ngoài như ô nhiễm, hóa chất độc hại có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mẹ tiếp xúc với các chất độc hại trong thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ dị tật ống tiêu hóa.

2.3. Thói quen sinh hoạt của mẹ trong thai kỳ

Thói quen sinh hoạt như chế độ ăn uống, sử dụng thuốc và rượu bia trong thai kỳ có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của ống tiêu hóa. Mẹ sử dụng thuốc không được chỉ định hoặc uống rượu có thể làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh.

III. Phương pháp nghiên cứu dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh

Nghiên cứu về dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương được thực hiện thông qua các phương pháp lâm sàng và cận lâm sàng. Việc thu thập dữ liệu từ bệnh nhân và phân tích các yếu tố nguy cơ là rất quan trọng để đưa ra kết luận chính xác.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án của trẻ mắc dị tật ống tiêu hóa. Các thông tin về tuổi thai, giới tính, và các yếu tố nguy cơ được ghi nhận để phân tích.

3.2. Phân tích số liệu và kết quả

Số liệu thu thập được phân tích bằng các phần mềm thống kê để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và tỷ lệ mắc dị tật. Kết quả sẽ giúp đưa ra các khuyến nghị cho công tác phòng ngừa và điều trị.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu về dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương đã chỉ ra rằng việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể giảm thiểu tỷ lệ tử vong và biến chứng. Các ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu này có thể giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em.

4.1. Kết quả điều trị và theo dõi bệnh nhân

Kết quả điều trị cho thấy tỷ lệ thành công cao ở những trẻ được phẫu thuật sớm. Việc theo dõi sau phẫu thuật cũng rất quan trọng để phát hiện sớm các biến chứng.

4.2. Khuyến nghị cho công tác phòng ngừa

Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe cho phụ nữ mang thai về các yếu tố nguy cơ gây dị tật bẩm sinh. Việc tư vấn trước khi mang thai cũng rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu dị tật ống tiêu hóa

Nghiên cứu về dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về các yếu tố nguy cơ và mô hình dị tật. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục được mở rộng để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc xác định rõ hơn các yếu tố nguy cơ và phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho trẻ mắc dị tật ống tiêu hóa.

5.2. Hướng đi mới trong nghiên cứu dị tật bẩm sinh

Cần có sự hợp tác giữa các chuyên gia y tế, nhà nghiên cứu và cộng đồng để nâng cao nhận thức và cải thiện các biện pháp phòng ngừa dị tật bẩm sinh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/07/2025
Mô hình và một số yếu tố nguy cơ đến dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại bệnh viện nhi trung uơng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh là dị tật thƣờng gặp ở trẻ em, đƣợc định nghĩa là những phát triển bất thƣờng về cấu trúc, chức năng, kể cả rối loạn chuyển hóa, có biểu hiện ngay từ khi mới sinh ra hoặc ở các giai đoạn muộn hơn nhƣng đã có nguyên nhân ngay từ trƣớc khi sinh [14] Trên thế giới theo tác giả Asindi A và cộng sự công bố năm 2002, tỷ lệ mắc dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh ở Vƣơng Quốc Ả Rập Xê Út chiếm 12,4% [26], của tác giả Sinha A (2022) tại Ấn độ tỷ lệ dị tật ống tiêu hóa chiếm 5,4% [75]. Mặt khác, tỷ lệ dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh khác nhau theo từng địa dƣ: Nghiên cứu tại bệnh viện Casablanca trên 33853 trẻ sinh ra, tỷ lệ dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh là 4,13/1000 trẻ sinh sống [82]. Tỷ lệ dị tật hệ thống tiêu hóa chiếm 30% trong tổng số dị tật bẩm sinh nghiên cứu tại Nigeria [33]. Ngoài ra dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh là một trong những phẫu thuật cấp cứu cao nhất ở trẻ sơ sinh với tỷ lệ mắc là 1/1500 trẻ sinh sống [27].

Tại Việt Nam theo kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Vân Yến tại bệnh viện phụ Sản Hà Nội, nhóm dị tật bẩm sinh ống tiêu hóa chiếm 13,92% [14], kết quả điều trị phụ thuộc nhiều yếu tố nhƣ: Thời điểm chẩn đoán, vị trí tắc nghẽn, thời điểm phẫu thuật. Chẩn đoán muộn có thể gây thủng ruột, nhiễm trùng huyết, viêm phổi và các biến chứng nặng có thể gây tử vong. Theo nghiên cứu của Trần Ngọc Sơn và cộng sự (2007) tại bệnh viện Nhi Trung ƣơng, viêm phúc mạc do thủng đƣờng tiêu hóa ở trẻ sơ sinh có tỷ lệ tử vong là 21,7%. Nguyên nhân gây thủng đƣờng tiêu hóa do teo ruột là 25%, do xoắn ruột là 6,5%, do tắc ruột phân su là 4,3%, do hirschsprung là 10,9%, do viêm phúc mạc kết bọc là 19,6% [8] Các dị tật ống tiêu hóa nếu không đƣợc phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ để lại các hậu quả nghiêm trọng.

Theo nghiên cứu của Kumar A và cộng sự, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh mắc dị tật đƣờng tiêu hóa chiếm đến 15,2% [51] Bệnh có nhiều yếu tố nguy cơ từ mẹ và con. Theo một số nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ [65] và tăng 2 ở trẻ thụ tinh nhân tạo [28], đa thai [14], mẹ sử dụng một số thuốc nhƣ Cocain, Thalidomide [40], mẹ hút thuốc lá [44], gia đình kinh tế khó khăn Các nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận một số yếu tố liên quan đến dị tật bẩm sinh ống tiêu hóa nhƣ mẹ lớn tuổi, mẹ uống rƣợu, hút thuốc và dùng một số thuốc trong thai kì. Ở những trẻ sống sót dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh để lại những biến chứng nặng nề nhƣ suy dinh dƣỡng, hội chứng ruột ngắn, chậm phát triển thể chất và chất lƣợng cuộc sống về sau. Ở Việt Nam đã có đề tài nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng dị tật bẩm sinh đƣờng tiêu hóa tại bệnh viện Nhi Đồng 2 [4], các yếu tố nguy cơ tử vong ở trẻ sơ sinh dị tật bẩm sinh đƣờng tiêu hóa đƣợc phẫu thuật tại bệnh viện Nhi Đồng 1 [2] và một số đề tài nghiên cứu về từng dị tật ống tiêu hóa [9], [6], [12].

Tuy nhiên thực tế hiện nay lâm sàng còn gặp khá nhiều, tỷ lệ tử vong còn cao, tỷ lệ chẩn đoán trƣớc sinh cao và tỷ lệ phẫu thuật thành công càng nhiều, mô hình dị tật bẩm sinh có nhiều thay đổi, vậy mô hình dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh có gì thay đổi hay không? và cho đến nay chƣa có nghiên cứu nào về mô hình phân bố dị tật ống tiêu hóa này và nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơng còn hạn chế. Vì vậy để góp phần cho công tác phòng bệnh và chẩn đoán sớm, hạn chế các biến chứng nặng nề của các loại dị tật này. Chúng tôi tiến hành đề tài: "Mô hình và một số yếu tố nguy cơ đến dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơng" nhằm hai mục tiêu: 1. Mô tả mô hình dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2021-2022 2.

Xác định một số yếu tố nguy cơ đến dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Phôi thai học ống tiêu hóa bình thƣờng Ống tiêu hóa nguyên thủy đƣợc hình thành cuối tuần thứ ba và đầu tuần thứ tƣ của quá trình phát triển phôi, do phôi gấp lại ở hai bên sƣờn, nội bì phôi cuộn lại thành một ống gọi là ruột nguyên thủy. Ống tiêu hóa nguyên thủy gồm 3 phần: Ruột trƣớc, ruột giữa, ruột sau. Ruột trƣớc sẽ hình thành nên thanh quản, thực quản, dạ dày, đoạn tá tràng trên bóng Vater, ruột giữa hình thành nên đoạn tá tràng dƣới bóng Vater, ruột non, đại tràng lên, 2/3 đại tràng ngang bên phải, ruột sau hình thành phần còn lại của ống tiêu hóa 1/3 đoạn xa đại tràng ngang, đại tràng xuống, trực tràng, đoạn trên ống hậu môn 1.

Phát triển của đoạn sau ruột trước  Phát triển của thực quản Vào tuần thai thứ tƣ, thực quản đƣợc hình thành từ một vùng nhỏ của nội bì giữa đoạn giãn to của dạ dày và mầm phổi [48]. Vách khí - thực quản xuất hiện khi phôi 34 - 36 ngày. Hai bờ rãnh thanh - khí quản tiến lại gần nhau và sát nhập lại ngăn đoạn sau ruột trƣớc thành hai ống: Ống phía bụng là ống thanh - khí quản, ống phía lƣng là thực quản. Cùng với sự hạ thấp của lồng ngực, của tim và phổi, thực quản mau chóng dài ra về phía đuôi phôi và đƣờng đi của nó gần nhƣ song song với đƣờng đi của khí quản, đến khi sinh thực quản dài 8 - 10cm và gấp đôi khi trẻ đƣợc 1 tuổi [48].

Lớp cơ vòng đƣợc hình thành khi thai 6 tuần và cơ dọc đƣợc hình thành khi thai 9 tuần và phát triển hoàn chỉnh khi thai 12 tuần. Sóng nhu động nguyên phát có thể quan sát thấy ở giai đoạn sớm khi thai 26 tuần [48] 4 Hình 1. Các giai đoạn phát triển mầm phổi và phân chia thực quản và khí quản [48]  Phát triển của dạ dày Dạ dày xuất hiện vào tuần thứ tƣ, dƣới dạng một đoạn nở to hình thoi ở đoạn dƣới của ruột trƣớc. Lúc đầu ở cổ, di chuyển xuống dƣới vào trong ổ bụng lúc 8 tuần.

Trong quá trình phát triển thai 7 - 8 tuần, dạ dày xoay theo hai trục: Dọc và trƣớc sau. Lớp cơ vòng xuất hiện khi thai 8 tuần, lớp cơ dọc 8 – 10 tuần, lớp cơ chéo 12 - 14 tuần. Lớp niêm mạc phân biệt rõ khi thai 4 tháng. Hình dạng đặc trƣng của dạ dày (bờ cong lớn, bờ cong nhỏ, đáy vị, thân vị và môn vị) có thể nhận biết đƣợc khi thai 14 tuần [21].

 Sự hình thành tá tràng Tá tràng đƣợc tạo bởi đoạn cuối của ruột trƣớc và đoạn đầu của ruột giữa. Chỗ nối của hai đoạn này nằm ngay ở nơi phát sinh ra mầm gan. Do dạ dày xoay, tá tràng có hình chữ U cong về phía bên phải, ôm lấy đầu tụy. Cơ vòng bắt đầu phát triển khi thai 5 - 6 tuần 1.

Phát triển của ruột giữa Trong quá trình phát triển của ruột giữa, xảy ra bốn hiện tƣợng. - Tạo ra quai ruột nguyên thủy đặc trƣng bởi sự dài ra rất nhanh của ruột giữa từ tuần thai thứ 5-6 [21]. - Thoát vị sinh lý của các quai ruột: Trong tuần thứ 7 của quá trình phát triển phôi, các đoạn ruột giữa dài ra rất nhanh và tiến vào phần khoang 5 ngoài phôi nằm trong dây rốn gây ra thoát vị sinh lý. Timor - Tritsch IE (1989) quan sát trên 61 phôi thai từ 7 - 12 tuần của thai kỳ đã ghi nhận thấy có tình trạng thoát vị sinh lý của ruột giữa.

Thoát vị này đã đƣợc phát hiện ở 64% các trƣờng hợp sau 8 tuần, 100% trong tuần 9 và 10 và 25% ở tuổi thai 11 tuần. Không có bào thai nào trong nhóm nghiên cứu ở tuần thai 12 còn thoát vị. - Chuyển động xoay của quai ruột nguyên thủy tiến hành ngƣợc chiều kim đồng hồ và xoay một góc 270 độ. Quá trình quay của ruột bắt đầu từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 10 của thời kỳ bào thai [69] - Sự thụt của các quai ruột nguyên thủy đã thoát vị vào trong khoang màng bụng xảy ra vào tuần thứ 10 - 12 của thai kỳ [21].

Quá trình cố định ruột bắt đầu xảy ra từ tuần thứ 12 và kéo dài tới khi đẻ. Quá trình ống tiêu hóa hoàn thành sắp xếp, đặt vào đúng vị trí khi thai 20 tuần [69]. Trong quá trình phát triển ruột dài ra rất nhanh gấp đôi lúc thai 15 tuần và gấp 1.000 lần từ khi thai 5 tuần tuổi đến 40 tuần. Khi thai 20-21 tuần chiều dài của ruột non là 93-98 cm.

Đến khi sinh ruột dài 275 cm [62] 1. Phát triển của ruột sau Trong quá trình đuôi phôi cong về phía bụng, một vách trung mô đƣợc tạo ra trong nếp niệu nang, vách ấy gọi là vách niệu - trực tràng. Vách niệu - trực tràng do 3 nếp hợp lại phía trên là nếp Tournex, 2 bên là nếp Rathke. Nếp Tournex xuất hiện trƣớc (tuần 4), có dạng hình bán nguyệt, nằm giữa niệu nang và ổ nhớp.

Nếp này chia ổ nhớp theo mặt phẳng trán và ngừng lại khi tiến đến niệu đạo chậu. Cặp nếp Rathke sinh ra sau, từ 2 nếp trung bì ở 2 bên thành ổ nhớp và tiến vào giữa sát nhập với nhau và sát nhập với nếp Tournex tạo nên vách niệu trực tràng. Khi các nếp này không sát nhập hoặc sát nhập không hoàn chỉnh sẽ phát sinh các loại dị tật khác nhau [5]. Nhƣ vậy vách niệu - trực tràng chia ổ nhớp làm hai phòng: Phòng trƣớc là xoang niệu - 6 sinh dục, phòng sau là ống hậu môn - trực tràng tuần thứ 7.

Màng nhớp cũng bị chia thành hai phần: Phần trƣớc gọi là màng niệu - sinh dục bịt xoang niệu sinh dục, phần sau là màng hậu môn bịt ống hậu môn - trực tràng. Trong tuần thứ 8, màng hậu môn nằm ở đáy một hố lõm (lõm hậu môn) phủ ngoài bởi ngoại bì. Tuần thứ 9 màng hậu môn rách ra và trực tràng thông với bên ngoài. Các nhung mao xuất hiện khi thai 4 tháng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ