CHƯƠNG 1 KIẾN THỨC CƠ SỞ 1. Khái niệm cơ bản của phương trình vi phân Phương trình vi phân là phương trình có chứa biến số, hàm số cần tìm và đạo hàm (vi phân) các cấp của hàm số đó. Phương trình vi phân được chia thành nhiều loại. Hai loại chính là phương trình vi phân thường (ODEs) và phương trình vi phân riêng phần (PDEs) hay còn loại là phương trình đạo hàm riêng.
Phương trình vi phân thường là phương trình trong đó có chứa hàm chưa biết là hàm một biến và các đạo hàm theo nghĩa thông thường. Phương trình đạo hàm riêng là một phương trình vi phân thể hiện mối liên hệ giữa một hàm nhiều biến và các đạo hàm riêng của nó. Trong luận văn này, ta chỉ quan tâm đến phương trình vi phân thường và hệ phương trình phương trình vi phân thường. Phương trình vi phân thường được xem xét dưới dạng sau đây: F (y (n) , y (n−1) , .1) trong đó F là hàm đã cho của n + 2 biến, y = y(t) là ẩn hàm cần tìm và nhất thiết phải có sự tham gia của đạo hàm (đến cấp nào đó) của y(t).
Để giải phương trình (1.1) ta phải tìm được hàm số φ(t) xác định trong khoảng (a, b) sao cho khi thay y = φ(t), y 0 = φ0 (t), .1) ta được đồng nhất thức F (φ(n) (t), φ(n−1) (t),. Xét các hàm số y1 (t) = 30e2t , y2 (t) = 30e3t và y3 (t) = 40e2t. Kiểm tra xem hàm số nào là nghiệm của phương trình y 0 = 2y ? • Với hàm số y1 (t) = 30e2t , ta có vế trái bằng 60e2t và vế phải bằng 2.30e2t , như vậy vế trái bằng vế phải và do đó y1 (t) = 30e2t là một 5 nghiệm của phương trình đã cho. • Với hàm số y2 (t) = 30e3t , ta có vế trái bằng 90e3t , trong khi đó vế phải bằng 2.30e3t , nên y2 không phải là nghiệm của phương trình đã cho.
• Tương tự, ta cũng kiểm tra được y3 thỏa mãn phương trình đã cho. Như vậy, chắc chắn có thể kiểm tra xem một hàm đã cho có là nghiệm của phương trình hay không. Do đó, thông qua ví dụ này đặt ra ba câu hỏi sau đây: Câu hỏi 1. Có thể chắc chắn rằng phương trình đã cho có nghiệm hay không? Câu hỏi 2.
Nếu ta biết có một nghiệm thì liệu có cách nào để tìm ra nó? Câu hỏi 3. Nếu tìm ra một nghiệm, có chắc rằng không còn nghiệm nào khác hay không? Câu hỏi 1 chính là bài toán tồn tại nghiệm và câu hỏi 3 là bài toán duy nhất nghiệm của phương trình vi phân thường. Ta xem xét câu hỏi 1 trước tiên. Nói một cách đơn giản, ta có thể gặp các trường hợp sau: 1.
Không tồn tại hàm thỏa mãn phương trình. Phương trình có nghiệm nhưng chưa biết dạng. Phương trình có thể giải được nhưng ở dạng đóng, hay trong các hàm cơ bản hoặc trong phép cầu phương. Trường hợp 1 không phổ biến lắm trong toán học và nó không bao giờ xảy ra trong mô hình toán học.
Trong thực tế, nếu một phương trình đã cho là sự phản ánh chính xác của một hiện tượng thực tế, thì hiện tượng này thực tế sẽ đảm bảo nghiệm của phương trình là tồn tại. Ví dụ nếu ta có phương trình mô tả dòng nước thì thực tế là dòng nước chảy sẽ đủ để khẳng định phương trình có nghiệm. Tuy nhiên, nhìn chung các mô hình là sự phản ánh không hoàn hảo của cuộc sống thực nên có thể trong quá 6 trình mô hình hóa chúng ta đã bỏ lỡ một thực tế quan trọng khiến cho phương trình cuối cùng có thể không giải quyết được. Do đó việc kiểm tra xem một phương trình đã cho có thể giải được hay không là bước đầu quan trọng trong việc xác nhận mô hình.
Thật không may, những vấn đề này thường khó khăn và đòi hỏi một nền tảng cơ sở toán học cao cấp rất khắt khe và rộng lớn. Mặt khác, tất cả các phương trình mà chúng ta giải quyết là cổ điển và vấn đề cơ bản của bài toán tồn tại và duy nhất nghiệm được giải quyết tích cực vào đầu thế kỉ XX. Trường hợp 2 có thể hơi khó hiểu, nhưng như đã nói ở trên, có những định lý cho phép xác định sự tồn tại của nghiệm mà không hiển thị dạng của chúng. Khi biết tồn tại nghiệm, ta có thể sử dụng các phương pháp số, gần đúng để tìm các giá trị nghiệm với độ chính xác tùy ý.
Trường hợp 3 giải thích về ý nghĩa của các thuật ngữ được sử dụng trong các mục con, lưu ý rằng một tình huống là lý tưởng nếu ta có thể tìm ra nghiệm dưới dạng tổ hợp đại số của các hàm cơ bản y(t) = tổ hợp của các hàm cơ bản như: sin t, cos t, ln t, cấp số nhân, đa thức,. Thực tế cho thấy trường hợp này xảy ra không nhiều, trừ phi ta có sự sắp đặt trên cơ sở xây dựng một nền tảng lý thuyết đủ "đẹp", như trường hợp của các phương trình với biến số phân ly, phương trình vi phân tuyến tính hệ số hằng,. Ngay cả những trường hợp đơn giản nhất của phương trình vi phân liên quan đến các hàm cơ bản cũng có thể không có nghiệm như vậy. Xét phương trình y 0 = e−t.
Z 2 Lấy tích phân hai vế ta được y(t) = e−t dt. Tích phân này không thể biểu diễn dưới dạng tổ hợp của các hàm cơ bản. Điều này dẫn đến định nghĩa phép cầu phương. Ta nói một phương trình là giải được bằng phép cầu phương nếu một nghiệm của phương trình này được viết dưới dạng tích phân của các hàm cơ bản (như trên).
Vì ta biết 7 rằng mọi hàm liên tục đều có nguyên hàm (mặc dù thường không tìm thấy nguyên hàm một cách rõ ràng). Việc trả lời câu hỏi 1 và 2 đã trình bày sự tồn tại nghiệm và khả năng giải quyết phương trình vi phân. Ta tiếp tục chuyển sang vấn đề về tính duy nhất.1 ta thấy rằng phương trình vi phân xác định một họ nghiệm chứ không phải một hàm duy nhất. Trong trường hợp cụ thể này, nghiệm của phương trình phụ thuộc vào tham số tùy ý.
Một ví dụ đơn giản về phương trình vi phân cấp hai y 00 = t, bằng cách lấy tích phân trực tiếp ta được y = 16 t3 + C1 t + C2 , cho thấy rằng phương trình cấp hai ta mong đợi có nghiệm phụ thuộc vào 2 tham số tùy ý. Từ đó có thể dự đoán cho nghiệm của phương trình cấp n sẽ chứa n tham số. Một lớp đầy đủ như vậy được gọi là nghiệm tổng quát của phương trình vi phân. Nếu gán cho C của nghiệm tổng quát một giá trị xác định, ta được nghiệm gọi là nghiệm riêng của phương trình.
Bài toán Cauchy cho phương trình vi phân cấp một Xét phương trình vi phân cấp một được cho bởi: dy = f (t, y).2) dt Bài toán xác định nghiệm riêng của phương trình vi phân cấp một (1.2) thỏa mãn điều kiện: y 0 = f (t, y), y(t0 ) = y0 (1.3) được gọi là bài toán Cauchy. Điều kiện y(t0 ) = y0 được gọi là điều kiện ban đầu với y0 , t0 là giá trị được cho trước. Để giải quyết bài toán này ta phải tìm một hàm y(t) khả vi liên tục ít nhất trong khoảng (t1 , t2 ) có chứa t0 thỏa mãn: y 0 (t) ≡ f (t, y(t)) với mọi t ∈ (t1 , t2 ), y(t0 ) = y0. Xét ví dụ dưới đây: Ví dụ 1.
Kiểm tra hàm y(t) = sin t có phải là một nghiệm của phương 8 trình sau hay không? p π y0 = 1 − y 2 , t ∈ (0, ), 2 π y( ) = 1 2 p p Lời giải. Ta có vế trái y 0 (t) = cos t, vế phải 1 − y 2 = 1 − sin2 t = | cos t| = cos t với t ∈ (0, π2 ). Vì vậy hàm y(t) = sin t thỏa mãn phương trình đã cho. Ngoài ra sin π2 = 1 nên điều kiện ban đầu cũng thỏa mãn.
Vậy làm thế nào để biết một phương trình đã cho có nghiệm? Đối với phương trình ở dạng (1.2), câu trả lời trong định lý sau đây. Nếu hàm f trong (1.3) liên tục trong lân cận của điểm (t0 , y0 ) thì bài toán (1.3) có ít nhất một nghiệm trong khoảng (t1 , t2 ) chứa t0. Do đó ta có thể chắc chắn về nghiệm cho một lớp lớn phương trình vi phân thường có dạng (1.2) ngay cả khi ta không biết công thức rõ ràng của chúng. Ta quan tâm đến tính duy nhất nghiệm của một phương trình vi phân thường, ta biết rằng mỗi phương trình xác định một lớp nghiệm, đối với phương trình vi phân thường cấp một, lớp nghiệm này là một họ các hàm phụ thuộc vào một tham số tùy ý.
Do đó, về nguyên tắc, khi đưa vào điều kiện bổ sung như (1.3) ta có thể xác định được hằng số này sao cho bài toán Cauchy (1.3) chỉ có một nghiệm. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp lập luận trên có thể không xảy ra.Ví dụ sau đây chứng tỏ cho ta về điều đó. Bài toán Cauchy √ y0 = y, t>0 y(0) = 0, luôn có hai nghiệm: y ≡ 0 và y = 14 t2. Rõ ràng nghiệm y ≡ 0 là không 9 phụ thuộc vào điều kiện y(0) = 0.
Tuy vậy, có một lớp lớn các hàm f để cho (1.3) có chính xác một nghiệm. Kết quả này được phát biểu bằng định lý Picard dưới đây. Cho f và ∂f /∂y liên tục trong lân cận của (t0 , y0 ). Khi đó bài toán Cauchy (1.3) có chính xác một nghiệm xác định trong lân cận của t0.
Ta đã thấy trong ví dụ 1.3 có hai nghiệm cho bài toán √ y 0 = y, t ≥ 0 y(0) = 0. √ √ Trong trường hợp này ta có f (t, y) = y và fy = 1/(2 y), rõ ràng fy không liên tục trong bất kỳ lân cận nào của điểm (0, 0) và hiển nhiên là điều kiện của định lý Picard là không thỏa mãn. Một ví dụ khác về tính không đồng nhất y 0 = (sin 2t)y 1/3 , t≥0 y(0) = 0.4) Thay trực tiếp ta thấy có ít nhất 3 nghiệm khác nhau cho phương trình này: y1 ≡ 0, y2 = 8/27 sin3 t và y3 = − 8/27 sin3 t, các nghiệm này p p đều thỏa mãn y(0) = 0. Tuy vậy, ∂f 1 −2/3 ∂y = sin 2t( 3 .