chương ITO được đã được thông qua tại hội nghị về thương mại và việc làm của Liên hiệp quốc tại Havana nhưng lại không được quốc hội nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ phê chuẩn, dẫn đến hiến chương này mất tác dụng. Từ đó GATT trở thành công cụ đa phương duy nhất điều chinh thương mại quốc tế từ năm 1948 cho đến năm 1995. Trong 48 năm tồn tại của mình GATT đã có những đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy, đảm bảo thuận lợi và tự do hoá thương mại thế giới. Tuy nhiên, trước những biến chuyển của tình hình thương mại quốc tế và sự phát triển của khoa học 7 Luan van kĩ thuật vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, GATT bắt đầu tỏ ra có những bất cập và không theo kịp tình hình kinh tế thế giới.
- Thứ nhất, những thành công của GATT trong việc giảm và ràng buộc thuế quan ở mức thấp cộng với một loạt các cuộc suy thoái kinh tế trong những năm 70 và 80 đã thúc đẩy các nước tạo ra các loại hình bảo hộ phi quan thuế khác nhau để đối phó với hàng nhập khẩu; hoặc ký kết các thoả thuận song phương dàn xếp thị trường giữa các chính phủ Tây Âu và Bắc Mỹ, đồng thời nhiều hình thức hỗ trợ và trợ cấp mới cũng đã xuất hiện trong thời gian này. Những biến đổi này có nguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị mà việc giảm thuế quan mang lại cho thương mại quốc tế. Trong khi đó, phạm vi của GATT lại không đề cập một cách cụ thể và sâu rộng đến các vấn đề này. - Thứ hai, đến những năm 80, GATT đã không còn thích ứng với thực tiễn thương mại thế giới.
Khi GATT được thành lập năm 1948, Hiệp định này chủ yếu điều tiết thương mại hàng hoá hữu hình. Sau đó, thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng, mở rộng sang cả các lĩnh vực thương mại dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, xây dựng, tư vấn. Các loại hình thương mại dịch vụ này, cùng với các vấn đề thương mại trong đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đã phát triển nhanh chóng và trở thành một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế. Nhưng GATT lại không hề đề cập đến các vấn đề đó.
- Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá, GATT còn có những lỗ hổng cần phải được cải thiện. Ví dụ, trong nông nghiệp và hàng dệt may, các cố gắng tự do hoá thương mại đã không đạt được thành công lớn. Kết quả là còn tồn tại nhiều ngoại lệ trong hai lĩnh vực thương mại này. - Thứ tư, về mặt cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng tỏ ra không thích ứng với tình hình thế giới.
GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia mang tính chất tuỳ ý. Thương mại quốc tế ở những năm 1980 và 1990 đòi hỏi phải có một tổ chức thường trực, có nền tảng pháp lý vững chắc để đảm bảo thực thi các hiệp định, quy định chung của thương mại quốc tế. Về hệ thống giải quyết tranh chấp, GATT chưa có một cơ chế điều tiết thủ tục tố tụng chặt chẽ, không đưa ra 8 Luan van một thời gian biểu nhất định, do đó, các vụ việc tranh chấp thường bị kéo dài, dễ bị bế tắc. Để thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế một cách hiệu quả, rõ ràng hệ thống này cần phải được cải tiến.
Những yếu tố trên, kết hợp với một số nhân tố khác đã thuyết phục các bên tham gia GATT cần phải có nỗ lực để củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. Từ năm 1986 đến 1994, Hiệp định GATT và các hiệp định phụ trợ của nó đã được các nước thảo luận sửa đổi và cập nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường thương mại thế giới. Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định đi kèm và một vài biên bản giải thích khác đã hợp thành GATT 1994. Một số hiệp định riêng biệt đã đạt được trong các lĩnh vực như Nông nghiệp, Dệt may, Trợ cấp, Tự vệ và các lĩnh vực khác; cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của các Hiệp định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá.
Vòng đàm phán Uruguay cũng thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh thương mại Dịch vụ và Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại. Một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán lần này là, cuối Vòng đàm phán Uruguay, các nước đã cho ra Tuyên bố Marakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995. Chức năng của WTO. Điều III - hiệp định Marakesh thành lập tổ chức thương mại thế giới quy định các chức năng cụ thể của tổ chức này như sau: - Tạo điều kiện cho việc thực thi, điều hành và hoạt động của các công cụ pháp lý của vòng đàm phán Uruguay và của bất kì Hiệp định nào được đàm phán trong tương lai, cũng như các hiệp định thương mại nhiều bên.
- WTO cũng là diễn đàn để các nước thành viên tiếp tục đàm phán về các vấn đề nêu trong hiệp định, về các vấn đề mới phát sinh trong quyền hạn của mình, và về việc mở rộng tự do hoá thương mại. - WTO cũng có chức năng giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các quốc gia thành viên. - WTO cũng có chức năng thực hiện việc rà soát thường kì chính sách thương mại của các nước thành viên. 9 Luan van Và, WTO sẽ thực hiện các chức năng trên của mình trên cơ sở hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác.
Cơ cấu tổ chức của WTO. Hiện nay WTO có 160 thành viên với cơ cấu tổ chức được phân ra theo các cấp và được quy định trong Điều IV - Hiệp định WTO như sau: Cấp cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng (MC) được họp ít nhất hai năm một lần. Hội nghị Bộ trưởng là cơ quan đưa ra quyết định đối với mọi vấn đề của bất kỳ hiệp định cụ thể nào và thường đưa ra các đường lối, chính sách chung để các cơ quan cấp dưới tiến hành triển khai. Cấp thứ 2 là Hội đồng chung (GC).
Hội đồng chung giải quyết các vấn đề của WTO thay mặt cho Hội nghị Bộ trưởng và báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng và đồng thời đóng vai trò là Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) và Cơ quan Rà soát chính sách (TPRB). Cấp thứ 3 là các Hội đồng bao gồm: Hội đồng Thương mại Hàng hoá, Hội đồng Thương mại Dịch vụ và Hội đồng về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại. Ngoài ra WTO còn có các Uỷ ban, Nhóm công tác khác tương đương với Hội đồng cũng báo cáo trực tiếp lên Hội đồng chung như Uỷ ban về Thương mại và phát triển, Uỷ ban về Thương mại và môi trường, hay Nhóm công tác về mối quan hệ giữa Thương mại và Đầu tư. Cấp thứ 4 là các Uỷ ban, Cơ quan, Nhóm công tác và Nhóm hoạt động phụ trách các lĩnh vực chuyên môn riêng biệt trực thuộc các Hội đồng.
Trong WTO còn có một cơ quan rất quan trọng nữa phải kể đến là Ban thư kí với người đứng đầu và Tổng thư kí và có 4 Phó tổng thư kí phụ trách từng mảng cụ thể. Các nguyên tắc cơ bản và quy định của WTO. Các nguyên tắc cơ bản. WTO hoạt động dựa trên một bộ các luật lệ và quy tắc tương đối phức tạp, bao gồm trên 60 hiệp định, phụ lục, quyết định và giải thích khác nhau điều chỉnh hầu 10 Luan van hết các lĩnh vực thương mại quốc tế.
Tất cả các văn bản đó đều được xây dựng trên cơ sở năm nguyên tắc cơ bản của WTO. • Thương mại không phân biệt đối xử. Nguyên tắc này được cụ thể trong các nguyên tác về Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và Đãi ngộ quốc gia (NT). Theo nguyên tắc MFN thì WTO quy định nếu một nước thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ nước thành viên nào mức thuế quan hay bất kỳ một ưu đãi nào khác thì cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩm tương tự của tất cả các quốc gia thành viên khác một cách ngay lập tức và vô điều kiện.
Như vậy, nguyên tắc này quy định một nước thành viên không được phép áp dụng phân biệt đối xử giữa các nước thành viên khác. Theo nguyên tắc NT thì WTO quy định bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới (đã trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu) sẽ được hưởng sự đối xử không kém ưu đãi hơn sản phẩm tương tự sản xuất trong nước. Nguyên tắc này yêu cầu một nước phải đối xử bình đẳng, công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước. • Tự do hoá thương mại: từng bước và bằng con đường đàm phán Một trong những biện pháp hiệu quả nhất được WTO đưa ra nhằm khuyến khích mậu dịch là các nước giảm bớt hàng rào cản trở thương mại như các hàng rào thuế quan và các hàng rào phi thuế nhằm mở cửa thị trường.
Tuy nhiên, mở cửa thị trường có thể đem lại nhiều thuận lợi nhưng nó cũng đòi hỏi phải có một số điều chỉnh nhất định. Các Hiệp định của WTO cho phép các quốc gia thành viên từng bước thay đổi chính sách của mình, thông qua “lộ trình tự do hoá từng bước”. Từ khi GATT ra đời năm 1947-1948 đã diễn ra 8 vòng đàm phán thương mại. Các vòng đàm phán này dần mở rộng đến nhiều vấn đề cho đến khi WTO ra đời sau vòng đàm phán Uruguay.
Ngày nay các cuộc đàm phán trong WTO vẫn được tiếp tục nhằm nhắm đến tự do thương mại hơn nữa. • Dễ dự đoán: nhờ ràng buộc cam kết cùng chính sách minh bạch. 11 Luan van Một nguyên tắc cơ bản của WTO là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định cho thương mại quốc tế, thông qua việc các nước ràng buộc mức thuế quan của mình. Các nước chỉ có thể tăng thuế quan sau khi đã tiến hành đàm phán lại và đã đền bù thoả đáng cho lợi ích các bên bị thiệt hại do việc tăng thuế đó.
WTO cũng đã rất nỗ lực trong việc sử dụng nhiều biện pháp khác nhằm tăng cường tính minh bạch và ổn định.