Chương 1: Các lý thuyết về quyền chọn - Chương 2: Kinh nghiệm phát triển thị trường quyền chọn cổ phiếu trên thế giới. - Chương 3: Sự cần thiết phát hành sản phẩm quyền chọn tại công ty chứng khoán và xây dựng mô hình quản lý phát hành, bảo hộ vị thế trên quyền chọn kiểu Châu Âu tại công ty chứng khoán. - Chương 4: Những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển công cụ quyền chọn tại công ty chứng khoán. 11 CHƢƠNG 1: CÁC LÝ THUYẾT VỀ QUYỀN CHỌN 1.1 Một số khái niệm cơ bản về quyền chọn: 1.1 Quyền chọn: Quyền chọn là một Hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán – trong đó cho người mua quyền nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý trong ngày hôm nay.
Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn. Người bán quyền chọn sẵn sàng bán hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo các điều khỏan của Hợp đồng nếu người mua muốn thế. Một quyền chọn để mua tài sản gọi là quyền chọn mua (call). Một quyền chọn để bán tài sản gọi là quyền chọn bán (put).2 Hợp đồng quyền chọn cổ phiếu: Hợp đồng quyền chọn cổ phiếu là hợp đồng quyền chọn mà chứng khoán được ấn định trong quyền chọn là cổ phiếu.
Cổ phiếu được ấn định trong hợp đồng quyền chọn được gọi là cổ phiếu cơ sở (underlying stock).3 Phân loại quyền chọn: 1.1 Quyền chọn kiểu Mỹ: Quyền chọn kiểu Mỹ là quyền chọn cho phép người nắm giữ quyền chọn thực hiện hợp đồng quyền chọn vào bất kỳ ngày nào trong thời hạn hợp đồng và trước ngày đáo hạn.2 Quyền chọn kiểu Châu Âu: Quyền chọn kiểu Châu Âu là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ thực hiện hợp đồng quyền chọn vào ngày đến hạn. Sự phân biệt giữa hai loại quyền chọn kiểu Châu Âu và quyền chọn kiểu Mỹ không liên quan đến vị trí địa lý. Đa số hợp đồng quyền chọn được 12 trao đổi chính yếu trên thị trường Mỹ. Tuy nhiên, quyền chọn kiểu Châu Âu có đặc điểm dễ phân tích hơn quyền chọn kiểu Mỹ.2 Vai trò của các công cụ quyền chọn tham gia vào TTCK: 1.1 Phòng ngừa rủi ro: Khi nhà đầu tư có dự định mua chứng khoán và kỳ vọng giá của chứng khoán đó sẽ tăng lên trong tương lai thì họ sẽ phòng ngừa rủi ro bằng cách mua một quyền chọn mua.
Đến thời điểm đáo hạn của hợp đồng quyền chọn, nếu giá chứng khoán lên cao như dự đoán thì người sở hữu quyền chọn sẽ thực hiện hợp đồng và mua chứng khoán theo giá đã thoả thuận tại thời điểm ký hợp đồng. Điều này sẽ có lợi hơn so với phải mua theo giá hiện tại trên thị trường, khoản lãi này là không giới hạn tuỳ thuộc vào chênh lệch giữa giá chứng khoán hiện tại và giá chốt trên hợp đồng. Trong trường hợp này, nếu giá chứng khoán diễn biến ngược lại so với dự đoán thì người sở hữu quyền chọn sẽ không thực hiện hợp đồng và chỉ chịu một khoản lỗ giới hạn bằng với khoản phí mua quyền chọn. Ngược lại, khi nhà đầu tư đang sở hữu chứng khoán và họ dự đoán trong tương lai giá chứng khoán sẽ giảm thì sự lựa chọn cho nỗi lo về giá của họ đối với chứng khoán đang sở hữu là mua một quyền chọn bán.
Nếu có công cụ quyền chọn chứng khoán thì nhà đầu tư sẽ không bị hoảng loạn khi thị trường đảo chiều vì họ đã mua “bảo hiểm” về giá.2 Vai trò đầu cơ: Mặc dù có những ưu điểm giúp nhà đầu tư có thể phòng ngừa rủi ro trong các hoạt động sản xuất kinh doanh v à tài chính nhưng hợp đồng phái sinh nói chung và hợp đồng quyền chọn nói riêng còn có thể được sử dụng cho các mục đích tăng tính rủi ro cho thị trường tài chính. Đó là hành vi đầu cơ, lừa đảo, vi phạm đạo đức trong đầu tư chứng khoán và làm tăng thêm những bất ổn trên thị trường tài chính nói 13 chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Chúng ta hãy xem một vài ví dụ về hành vi tiêu cực từ mặt trái của các công cụ phái sinh, cụ thể là quyền chọn: Chỉ cần một dao động mạnh trong giá vàng chẳng hạn, nhiều nhà đâu tư cá nhân và tổ chức có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán do không có khả năng thực hiện nghĩa vụ với bên mua (trường hợp quyền chọn v àng). Nếu nhiều tổ chức liên tục bị rơi vào trường hợp như thế, sẽ lây lan sang toàn hệ thống.
Các nhà kinh tế ví von gọi đây là dạng rủi ro mắt xích hoa cúc. Các doanh nghiệp sử dụng hợp đồng phái sinh thao túng thị trường mỗi khi họ nắm bắt được những thông tin có lợi cho mình. Chẳng hạn, các doanh nghiệp đã biết trước tình trạng tài chính thật của mình là đang thua lỗ, nhưng thị trường chưa nắm bắt được các thông tin này. Từ đó, họ có thể thông qua một định chế nào đó, đặt lệnh bán khống (đầu cơ giá xuống),bán quyền chọn.
Đến khi giá xuống họ sẽ thực hiện hợp đồng để kiếm lời. Đây là một điển hình vi phạm đạo đức.3 Vai trò định giá: Hợp đồng quyền chọn tuy không trực tiếp phản ánh dự đoán về giá giao ngay trong tương lai như hợp đồng Future, nhưng nó phản ánh sự biến động giá của các loại hàng hóa cơ sở hay nói cách khác, quyền chọn phản ánh độ rủi ro gắn liền với mỗi tài sản cơ sở. Tức là, khi có biến biến động trong giao dịch quyền chọn thì cũng sẽ phản ảnh vào giá của hàng hoá cơ sở.4 Thúc đẩy thị trƣờng chứng khoán phát triển: Trong những năm gần đây thị trường quyền chọn đã ngày càng trở nên quan trọng hơn trong lĩnh vực tài chính và đầu tư. Thị trường quyền chọn cho phép các nhà đầu tư có thể kiểm soát tốt hơn về rủi ro của những khoản đầu tư, đồng thời có thể mang lại một tỷ suất lợi nhuận lớn.
Bên cạnh đó, việc tham gia trên thị trường không đòi hỏi một chi phí quá lớn do đó cho phép các nhà đầu tư có thể tham gia hoặc rút lui ra khỏi thị trường một cách dễ dàng. Với vai trò là công cụ bảo vệ 14 lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro như vậy, quyền chọn tạo tâm lý an toàn hơn khi đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu, do đó, thu hút được nhiều nhà đầu tư mạnh dạn tham gia thị trường hơn. Đồng thời, quyền chọn cũng đóng góp thêm hàng hoá cho thị trường giao dịch, sẽ làm cho thị trường đa dạng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của nhiều nhà đầu tư. Những điều này làm cho thị trường càng trở nên sôi động, hấp dẫn hơn và ngày càng phát triển hơn.3 Bảo hộ vị thế trên quyền chọn và các chiến lƣợc bảo hộ : 1.1 Bảo hộ vị thế trên quyền chọn : Bảo hộ vị thế trên quyền chọn là hoạt động mua bán chứng khoán của nhà phát hành quyền chọn nhằm đảm bảo mức mức sinh lời kỳ vọng từ việc phát hành quyền chọn với mức rủi ro thấp nhất.
Trên lý thuyết, một công ty tài chính có thể bảo hộ vị thế của họ từ hợp đồng quyền chọn bằng cách tham gia vào vị thế đối lặp. Tuy nhiên, thực tế, khi hợp đồng quyền chọn được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của từng đối tác cá biệt thì nó có chi phí quá đắt, do đó, cần có nhiều chiến lược bảo hộ đưa ra để lựa chọn ở mức độ đảm bảo chấp nhận được. Một trong những đặc tính hấp dẫn nhất của quyền chọn là nó có thể được kết hợp với cổ phiếu hoặc một quyền chọn khác để tạo ra nhiều chiến lược đa dạng nhằm đáp ứng mức rủi ro ưu thích của nhà đầu tư và phù hợp với dự báo của thị trường.2 Vị thế khống và vị thế có đảm bảo: Giả sử một công ty tài chính đã bán một quyền chọn mua Châu Âu trên 100.000 cổ phiếu không trả cổ tức với giá 300.000 $, giá chứng khoán là 49$, giá thực hiện là 50$, lãi suất không rủi ro là 5%/năm, độ bất ổn 20%/năm, thời gian đáo hạn 20 tuần (0.3846 năm), thu hồi mong đợi trên chứng khoán là 13%/năm. Vậy giá theo công thức Black-Scholes của quyền chọn là 240.000$, 15 do đó, công ty tài chính đã bán quyền chọn cao hơn giá trị lý thuyết của nó là 60.000$ và sẽ đương đầu với vấn đề bảo hộ tránh rủi ro.1Vị thế khống: Công ty tài chính chỉ bán quyền chọn mà không làm gi khác.
Như vậy, xảy ra 2 khả năng: Nếu quyền chọn mua thực hiện: Công ty tài chính sẽ phải mua 100.000 cổ phiếu với giá thị trường hiện hành để trang trải quyền chọn mua: chi phí sẽ bằng 100.000 nhân với chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán. Nếu quyền chọn mua không thực hiện: (giá chứng khoán < 50$) Công ty tài chính sẽ không tốn chi phí mà còn có lời 300.000 $ đã thu từ việc bán quyền chọn mua.2Vị thế có đảm bảo: Bên cạnh khả năng lựa chọn vị thế khống, công ty tài chính còn có thể chấp nhận vị thế có đảm bảo, tức là mua 100.000 cổ phiếu ngay khi bán quyền chọn. Như vậy cũng xảy ra 2 khả năng: Nếu quyền chọn được thực hiện: Chiến lược sẽ có kết quả tốt và công ty thu được từ phí bán quyền chọn. Nếu quyền chọn không được thực hiện: Công ty sẽ lỗ một khoản bằng 100.000 nhân với chênh lệch giá thực hiện và giá chứng khoán trừ đi phí bán quyền chọn.
Như vậy, vị thế khống và vị thế có đảm bảo không mang lại sự bảo hộ an toàn.3 Chiến lƣợc chấm dứt lỗ: Một chiến lược bảo hộ đáng quan tâm khác đôi khi cũng được đề xuất là chiến lược chấm dứt lỗ (stop-loss strategy). Chiến lược bảo hộ liên quan đến việc mua một đơn vị chứng khoán ngay khi giá tăng lên trên mức X và bán nó ngay khi giá giảm xuống dưới X. Mục tiêu là giữ vị thế khống bất cứ khi nào giá chứng khoán thấp hơn X và vị thế có đảm bảo bất cứ khi nào giá chứng khoán cao hơn X. 16 Chiến lược được thiết kế nhằm bảo đảm, tại thời điểm T, công ty sẽ sở hữu chứng khoán nếu quyền chọn ở gần vùng hái ra tiền và thôi sở hữu chứng khoán nếu quyền chọn ở gần vùng mất tiền.
Giá chứng khoán X Thời gian, t t1 t2 t3 t4 t5 T Chiến lược được thực hiện để tạo thu nhập tương tự như thu nhập trên quyền chọn.