ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua, ngành thủy sản Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế đất nước. Một số ngành hàng thủy sản mặc dù có sản lượng lớn nhưng hiệu quả kinh tế không cao do giá bán thấp, rủi do dịch bệnh gia tăng… Để tăng tính cạnh tranh và hiệu quả việc đa dạng hóa đối tượng nuôi mà Việt Nam có lợi thế, góp phần chuyển đổi cơ cấu, tăng giá trị và hiệu quả sản xuất là phù hợp với định hướng chiến lược phát triển và mục tiêu của ngành đến năm 2020. Cá rô phi với ưu thế: ít dịch bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lượng cao, cá có thịt màu trắng có khả năng thay thế cho một số loại cá biển, cá dễ chế biến theo nhiều loại sản phẩm khác nhau nên được đa số người tiêu dùng chấp nhận. Thịt cá ngọt, bùi, giàu khoáng chất, ít mỡ, lượng đạm vừa phải, có tác dụng bồi bổ cơ thể.
Ngoài mục đích cải thiện dinh dưỡng cho người dân nghèo, nuôi cá rô phi còn tạo ra sản phẩm hàng hóa ngày càng có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Hiện nay diện tích nuôi và sản lượng cá rô phi ở nước ta cũng đang phát triển mạnh; năm 2013 sản xuất 95.000 tấn cá rô phi và tăng nhanh lên trên 182. Những năm vừa qua có nhiều công trình nghiên cứu thành công cho ra công nghệ sản xuất giống cá rô phi toàn đực thông qua sử dụng hormon, lai xa, tạo con siêu đực. Với những kết quả từ các chương trình chọn giống là điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi thương phẩm cá rô phi ở nước ta.
Vĩnh Phúc là một tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với tổng diện tích tự nhiên 1. Với vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc nội và quốc tế, nằm trên hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, cũng là vùng chuyển tiếp giữa trung du, miền núi và đồng bằng sông Hồng tạo nên những thế mạnh quan trọng cho phát triển kinh tế của tỉnh trong đó có thủy sản. Tuy không có điều kiện phát triển nuôi thủy sản nước lợ và mặn nhưng Vĩnh Phúc là tỉnh có tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt với hệ thống ao, hồ, sông suối phong phú. Diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh trên 7 nghìn ha, trong đó trên 4.000 ha vùng trũng có thể chuyển đổi sang sản xuất 1 vụ lúa, 1 vụ cá; hơn 900 ha hồ chứa lớn nhỏ và gần 2.500 ha diện tích mặt nước ao đầm 1 c tự nhiên, ao hồ nhỏ nằm rải rác trong dân.
Thời gian vừa qua, nhiều hộ dân trên địa bàn tỉnh đã đầu tư nuôi cá rô phi theo hình thức thâm canh và bán thâm canh, giúp thay đổi tư duy sản xuất từ thả cá sang nuôi cá, sử dụng thức ăn công nghiệp, chú trọng trong công tác phòng bệnh, đã có nhiều hộ nuôi thành công và làm giàu từ nuôi cá rô phi. Tuy nhiên bên cạnh kết quả đạt được, nuôi cá rô phi còn nhiều tồn tại, hạn chế như diện tích sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, chưa hình thành các khu vực nuôi cá rô phi tập trung để tạo sản phẩm với số lượng lớn có tính cạnh tranh cao trên thị trường. Các mô hình liên kết sản xuất còn ít, chưa thực sự mang lại hiệu quả. Chưa thu hút được tham gia của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất.
Tổ chức sản xuất cá rô phi thương phẩm còn manh mún, chủ yếu dựa trên kinh tế hộ và kinh tế trang trại nên chưa sản xuất được sản phẩm cá rô phi có kích cỡ đồng đều, chất lượng tốt với số lượng lớn. Áp dụng kỹ thuật và quản lý ao nuôi chưa tốt nên bệnh trên cá rô phi vẫn xảy ra gây thiệt hại lớn cho người dân. Để phát huy tiềm năng và lợi thế sẵn có, tận dụng tốt về điều kiện đất đai, con người và khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật. Đồng thời nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại và đề xuất các giải pháp kỹ thuật nuôi cá rô phi có hiệu quả, đảm bảo an toàn thực phẩm, bền vững trong thời gian tới.
Thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình nuôi cá Rô phi Oreochromis niloticus thâm canh tại Vĩnh Phúc” là cần thiết. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Xây dựng mô hình nuôi cá rô phi thâm canh tạo sản phẩm hàng hóa, nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thủy sản. - Đánh giá hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi cá rô phi. - Đề xuất giải pháp nuôi cá rô phi bảm bảo tính bền vững, hiệu quả trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: Cá rô phi đơn tính, cá có kích thước 4-6cm, mật độ thả 2 con/m2. - Thời gian: Từ tháng 4/2016 đến tháng 12/2016. - Địa điểm: Trên địa bàn 3 huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc và Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Đề tài triển khai giúp lựa chọn được mô hình nuôi cá rô phi đạt hiệu quả trong điều kiện thực tế tại Vĩnh Phúc.
- Đề xuất giải pháp giúp nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thủy sản của tỉnh nói chung và cá rô phi nói riêng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ RÔ PHI 2. Nguồn gốc Hiện nay có khoảng hơn 80 loài cá rô phi.
Lớn nhất là loài O.niloticus ở hồ Rudolf, loài này có thể nặng tới 7kg và dài khoảng 67cm. Trong số 80 loài rô phi đã biết chỉ có khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nghề nuôi thủy sản. Cá rô phi được đưa vào nước ta từ giữa thế kỷ 20, loài đầu tiên được nhập vào nước ta là rô phi đen có tên khoa học là Tilapia mossambica (ngày nay gọi là Oreochromis mossambicus). Loài rô phi này có đặc tính mắn đẻ, cỡ cá nhỏ.
Cá rô phi vằn Oreochromis noloticus được nhập vào miền Nam nước ta nuôi thử và kết quả cho thấy đây là loài cá lớn nhanh, kích cỡ lớn và đẻ ít. Từ năm 1994 đến nay dòng cá rô phi vằn thuần chủng O.niloticus liên tiếp được di nhập vào nước ta từ Đài Loan, Ai Cập, Thái Lan, Philipin và đặc biệt loài cá rô phi xanh O.aureus từ Cuba. Mặc dù cá rô phi nhập vào nước ta từ nhiều nơi khác nhau, nhưng nguồn gốc chính của chúng là châu Phi (Nguyễn Văn Kiễm, 2002). Phân loại Cá rô phi thuộc: Lớp Osteichthyes Lớp phụ Actinopterygii Trên bộ Perciforms Bộ Perciformes Bộ phụ Percoidei Họ Cichlidae Giống Oreochromis Loài Oreochromis niloticus 4 c Hình 2.
Ảnh cá rô phi Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao. Sản lượng và diện tích nuôi đối tượng này tăng lên rất nhanh trong những năm gần đây nhất là tại các tỉnh phía Bắc. Cá rô phi có nguồn gốc từ sông Nile và Bắc Phi, nhưng ngày nay được nuôi rộng rãi khắp châu Á và trở thành thực phẩm "toàn cầu". Đặc điểm hình thái Thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên, đầu ngắn, miệng rộng, hai hàm dài bằng nhau, môi trên dày.
Lỗ mũi gần mắt hơn mõm. Vây ngực nhọn, dài, mềm. Vây bụng to cứng, chưa tới lỗ hậu môn. Toàn thân phủ vẩy, vẩy ở phần lưng có màu sáng vàng nhạt hoặc xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc màu vàng nhạt.
Trên thân có từ 6-8 vạch sắc tố chạy từ lưng tới bụng. Các vạch sắc tố ở các vây như vây đuôi, vây lưng rõ ràng (Nguyễn Văn Kiễm, 2002). Tập tính sống của cá rô phi vằn Cá rô phi vằn sinh trưởng và phát triển trong nước ngọt, nước lợ và có thể phát triển ở nước biển có độ mặn tới 32 ‰. Phát triển tối ưu ở độ mặn dưới 5‰.
Cá sống ở tần nước dưới và đáy, có thể chịu được được nước có hàm lượng ôxy hòa tan thấp 1mg/l, ngưỡng gây chết cho cá khoảng 0,3-0,1mg/l. Giới hạn pH từ 5-10 nhưng thích hợp nhất là 6,5-8,5. Khả năng chịu đựng NH3 tới 2,4mg/l. Cá rô 5 c phi là loài ưa nhiệt, chúng chịu đựng được nhiệt độ nước ở mức từ 11-420C nhưng phù hợp nhất cho sinh trưởng ở mức từ 25-320C.
Nhiệt độ nước dưới 180C cá giảm ăn, ức chế khả năng tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh. Nhiệt độ nước dưới 110C kéo dài trong vài ngày cá bị chết rét, do vậy cần có biện pháp phòng chống rét cho các lưu qua đông ở miền Bắc nước ta (Vũ Đình Liệu, 2004). Đặc điểm dinh dưỡng Cá rô phi là loài ăn tạp nghiêng về thực vật, thức ăn của chúng là tảo, thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ. Giai đoạn từ cá bột lên cá hương, thức ăn chủ yếu là tảo và động vật phù du.
Giai đoạn từ cá hương lên cá trưởng thành ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và thực vật phù du. Khi cá trưởng thành, ăn mùn bã hữu cơ lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng, thực vật thủy sinh. Trong tự nhiên cá thường ăn từ tầng đáy có độ sâu 1 đến 2m. Ngoài ra cá rô phi còn có khả năng tiêu hóa tốt thức ăn chế biến từ cá tạp, cua ghẹ, ốc, bột cá khô, cám gạo, bột ngô, bột sắn, khô dầu lạc, đỗ tương.
Cá rô phi có nhu cầu về thành phần tinh bột dưới 40%, canxi từ 1,5-2%, phốt pho từ 1-1,5%, protein từ 20-35% (Vũ Đình Liệu, 2004). Đặc điểm sinh trưởng Cá rô phi cái sẽ lớn chậm hơn sau khi tham gia sinh sản trong khi đó cá đực vẫn lớn bình thường. Vì vậy trong đàn cá rô phi thì cá đực bao giờ cũng có kích thước lớn hơn cá cái. Sau khoảng 5-6 tháng nuôi, cá rô phi vằn đực có thể đạt 400-600g/con, rô phi dòng GIFT có thể đạt từ 600-800g/con (Nguyễn Văn Kiễm, 2002).
Đặc điểm sinh sản Cá rô phi vằn O.niloticus tham gia đẻ trứng sau khoảng 4-5 tháng nuôi. Cá có tập tính làm tổ đẻ ở đáy ao (do con đực làm tổ đẻ). Cá thường chọn những nơi có mực nước từ 0,3-0,6cm, đáy ao có ít bùn để làm tổ. Sau khi đẻ xong, con cái sẽ ngậm trứng ấp trong miệng (cá con được giữ trong miệng cho đến khi hết noãn hoàng).
Sau khi hết noãn hoàng cá con vẫn còn phản xạ đi theo mẹ, gặp nguy hiểm sẽ trốn vào miệng mẹ, phản xạ này mất hẳn khi cá sống tự lập.