Chương I: Tổng quan về các phương pháp nâng cao chất lượng nhận dạng tín hiệu ECG (2) Về các mô hình nhận dạng đơn: Các mô hình đơn được lựa chọn sử dụng trong luận án là MLP, TSK, SVM. Một mặt, đây là các mô hình rất kinh điển, đã được thử nghiệm nhiều lần với các bài toán nhận dạng nói chung và các bài toán nhận dạng điện tim nói riêng. Mặt khác, đây cũng là các mạng đã đưa ra các kết quả tốt, được công bố ở các tạp chí quốc tế mà nghiên cứu sinh có thể có được các bộ số liệu gốc để so sánh và kiểm chứng tương đối dễ dàng; Ngoài ra, nghiên cứu sinh khảo sát thêm mô hình rừng ngẫu nhiên RF, vì đây cũng là mô hình áp dụng để nhận dạng tín hiệu điện tim có kết quả nhận dạng cao [56, 64, 72, 97] và để có thêm nhiều trường hợp thử nghiệm, ví dụ nếu mô hình kết hợp dùng nhiều hơn hai mô hình nhận dạng cơ sở thì với bốn mô hình nhận dạng cơ sở ta sẽ tạo ra các trường hợp kết hợp như sau: (1) MLP-TSK-SVM, (2) MLP-TSK-RF, (3) MLP-RF-SVM, (4) RF-TSK-SVM, (5) MLP-TSK-SVM-RF, từ đó có thêm cơ sở đánh giá giải pháp đề xuất của luận án. (3) Về giải pháp trích chọn đặc tính: Phân tích tín hiệu điện tim theo hàm Wavelet và hàm Hermite là các phương pháp khá phổ biến, đã được nhiều tác giả sử dụng, kết quả đưa ra đều tốt.
Luận án đã lựa chọn sử dụng hàm Hermite, qua thử nghiệm nghiên cứu sinh thu được kết quả nhận dạng tốt, đặc biệt nghiên cứu sinh đã đưa ra phương pháp khai triển Hermite tiết kiệm bộ nhớ và tốc độ có thể thực hiện trên thiết bị; Ngoài ra, luận án sử dụng thêm hai đặc tính thời gian là khoảng cách R-R từ đỉnh R đang xét tới đỉnh R liền trước và giá trị trung bình của 10 đoạn R-R cuối cùng. Các đặc tính thời gian này cũng được khuyến cáo trong nhiều công trình nghiên cứu về nhận dạng điện tim do đây là các đặc tính thể hiện tương quan giữa các nhịp với nhau, đồng thời đối với bài toán phát hiện loạn nhịp (E - tâm thất lỗi nhịp) thì khoảng cách giữa hai nhịp R-R là đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên cũng cần phải sử dụng khoảng cách trung bình của 10 đoạn R-R cuối cùng để tránh các ảnh hưởng của việc mất một nhịp QRS (do - 17 - Chương I: Tổng quan về các phương pháp nâng cao chất lượng nhận dạng tín hiệu ECG thuật toán không tự phát hiện được, hoặc do bản thân nhịp tim bị loạn,…) không gây ảnh hưởng mạnh tới hoạt động của các hệ nhận dạng; 1. Cơ sở dữ liệu sử dụng trong luận án 1.
Cơ sở dữ liệu MIT-BIH Để kiểm chứng chất lượng của các giải pháp đề xuất, luận án sử dụng cơ sở dữ liệu chuẩn MIT-BIH [28] (http://physionet. Cơ sở dữ liệu về chứng loạn nhịp tim MIT- BIH này được thực hiện bởi Phòng thí nghiệm Loạn nhịp tim BIH (Boston's Beth Israel Hospital) từ năm 1975 đến 1979 và hiện nay là cơ sở dữ liệu chuẩn phổ biến nhất được sử dụng trong các công trình nghiên cứu về nhận dạng tín hiệu điện tim. Cơ sở dữ liệu MIT-BIH gồm 48 bản ghi có độ dài 30 phút được thu thập từ 47 người gồm 25 nam có độ tuổi từ 32 đến 89 và 22 nữ có độ tuổi từ 23 đến 89, bản ghi 201 và 202 được thu thập từ cùng một người. Các bản ghi được số hóa ở tần số lấy mẫu 360Hz và mỗi bản ghi có ít nhất là hai chuyên gia tim mạch độc lập đánh dấu các mẫu bệnh, các chú thích được đánh dấu tại đỉnh R của từng nhịp tim [4].
Luận án sử dụng lựa chọn sử dụng 19 bản ghi để xây dựng các mẫu gồm các bản ghi số: 100, 105, 106, 109, 111, 114, 116, 118, 119,124, 200, 202, 207, 208, 209, 212, 214, 221 và 222 để xây dựng và kiểm nghiệm mô hình nhận dạng, chi tiết về bộ mẫu được trình bầy trong mục 4.1 và phần phụ lục. Cơ sở dữ liệu MGH/MF Bộ cơ sở dữ liệu thứ hai là MGH/MF [4], bộ dữ liệu mẫu này gồm có 250 bản ghi của tín hiệu ECG, thu thập từ 250 bệnh nhân tim mạch tại các phòng chăm sóc đặc biệt, phòng mổ, phòng thí nghiệm thông tim,. tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts. Luận án lựa chọn sử dụng các mẫu tín hiệu ECG của 20 bản ghi có mã số là: 029, 030, 058, 105, 106, 107, 108, 110, 111, 114, 117, 119, 121, 123, 124, 125, 128, 131, 137, 142, lấy ra tổng 4500 mẫu với ba loại nhịp: bình thường (N- Normal sinus rhythm), nhịp ngoại tâm thu thất (V- Premature ventricular contraction) và loạn nhịp trên thất (S- Supraventricular premature beat), chi tiết về bộ mẫu được trình bầy trong mục 4.
- 18 - Chương I: Tổng quan về các phương pháp nâng cao chất lượng nhận dạng tín hiệu ECG 1. Kết luận chương I Phần đầu của chương I, đã trình bày ngắn gọn về tín hiệu điện tim, về hình dạng và các thông số chính của tín hiệu điện tim, tổng hợp một số yếu tố ảnh hưởng đến tín hiệu điện tim. Trong phần tiếp theo, luận án tập trung phân tích, đánh giá ưu điểm và nhược điểm của các giải pháp nâng cao chất lượng nhận dạng tín hiệu điện tim, từ đó đề xuất định hướng nghiên cứu của luận án, đó là sử dụng mô hình kết hợp để cải thiện chất lượng nhận dạng tín hiệu điện tim ECG. Trong các chương tiếp theo, luận án sẽ lần lượt trình bày về các khối của hệ thống nhận dạng trong hình 1.
Cụ thể, trong chương II sẽ trình bày về khối thu thập và tiền xử lý, khối trích chọn đặc tính và chương III trình bày về giải pháp kết hợp kết quả bằng cây định, các mô hình nhận dạng cơ sở (MLP, TSK, SVM và RF). - 19 - Chương II: Thu thập, tiền xử lý và trích chọn đặc tính tín hiệu điện tim ECG CHƯƠNG II: THU THẬP, TIỀN XỬ LÝ VÀ TRÍCH CHỌN ĐẶC TÍNH TÍN HIỆU ĐIỆN TIM ECG Theo như mô hình nhận dạng tín hiệu điện tim đã đề xuất trong chương I (trong hình 1.5), chương II sẽ nghiên cứu hai khối đầu tiên của hệ thống nhận dạng đó là khối thu thập và tiền xử lý, khối trích chọn đặc tính. Trong đó phần thu thập và tiền xử lý sẽ được trình bày ngắn gọn đây là khối thiết kế cho phần thiết bị (chi tiết được trình bày trong phần phụ lục), phần lớn nội dung tập trung vào phần trích chọn đặc tính vì là khối ảnh hưởng lớn đến kết quả nhận dạng. Thu thập và tiền xử lý tín hiệu điện tim Nhiệm vụ thứ nhất của khối là chuẩn hóa tín hiệu điện áp tương tự thu được từ các điện cực ECG về dải biến thiên trong khoảng 0÷5V hoặc trong khoảng 0÷3,3V, tín hiệu từ các điện cực ECG thường được xử lý tuần tự qua các khâu: Tiền khuếch đại, khuếch đại và lọc tương tự.
Trong luận án sử dụng công nghệ FPAA để thiết kế các khối tiền khuếch đại, các bộ lọc tương tự. Nội dung chi tiết sẽ được trình bày ở phần sau (mục 4.5) và trong phần Phụ lục. Nhiệm vụ thứ hai của khối là loại bỏ nhiễu khỏi tín hiệu điện tim. Như đã trình bày ở phần trên, dải tần số có nghĩa của tín hiệu điện tim thường nằm trong khoảng từ 0,1Hz đến 150Hz (trong một số trường hợp có thể xét dải tần từ 0,05Hz đến 300Hz).
Thiết kế các bộ lọc có thể triển khai như theo sơ đồ trong hình 2.1, thực hiện theo các bước sau [48]: Bước 1: Loại bỏ các nhiễu nằm ngoài dải tần số điện tim quan tâm là 0,1÷100Hz, bằng các bộ lọc thông thấp có tần số cắt 100Hz và bộ lọc thông cao có tần số cắt 0,1Hz. Bước 2: Loại bỏ các nhiễu do điện lưới gây ra bằng bộ lọc Notch 50Hz (bộ lọc triệt tần 50Hz).1: Sơ đồ khối quá trình lọc nhiễu tín hiệu điện tim ECG - 20 - Chương II: Thu thập, tiền xử lý và trích chọn đặc tính tín hiệu điện tim ECG Hàm truyền tổng như sau: Y (z) H ( z) H1 ( z ) H 2 ( z ) H 3 ( z ) X (z) (2.2) Trong luận án, định hướng xây dựng các bộ lọc số có số bậc thấp để giảm được thời gian tính toán, thích hợp với việc nhúng xuống vi xử lý thay vì chạy trên máy tính. Cụ thể thiết kế các bộ lọc và kết quả thử nghiệm được trình bày tuần tự trong các mục kế tiếp. Lựa chọn bộ lọc thông thấp Lựa chọn bộ lọc thông thấp Butterworth bậc bốn, tần số cắt 100Hz, có hàm truyền như sau [48]: 0,4998 1,9993z 1 2,9989 z 2 1,9993z 3 0,4998z 4 H1( z) 1 2,6386z 1 2,7693z 2 1,3393z 3 0,2498z 4 (2.
Lựa chọn bộ lọc thông cao Thiết kế bộ lọc thông cao Butterworth bậc bốn, tần số cắt 0,1Hz, có hàm truyền như sau [48]: 0,9554 3,8217 z 1 5,7325z 2 3,8217 z 3 0,9554z 4 H2 ( z) 1 3,9088z 1 5,7305z 2 3,7345z 3 0,9128z 4 (2. Lựa chọn bộ Notch 50Hz Lựa chọn thông số của bộ lọc như sau: Fnotch= 50Hz (tần số cần triệt), Bandwidth: 4Hz (độ rộng của dải chặn), Apass: 3dB (độ suy giảm), có hàm truyền như sau [48]: 0,9825 1,2631z 1 0,9825z 2 H3 ( z) 1 1,2631z 1 0,9651z 2 (2.5) - 21 - Chương II: Thu thập, tiền xử lý và trích chọn đặc tính tín hiệu điện tim ECG Kết quả đáp ứng tần số-biên độ của ba bộ lọc thể hiện trong hình 2.2: Đáp ứng tần số-biên độ của bộ lọc thông thấp (a), bộ lọc Notch 50Hz (b), bộ lọc thông cao (c) Trong hình 2.3 là ví dụ hiệu quả hoạt động của các bộ lọc đã nêu trên với tín hiệu điện tim lấy từ bản ghi 100 trong bộ cơ sở dữ liệu MIT-BIH Arrhythmia Database. Tín hiệu này có thêm các thành phần nhiễu có tần số 50Hz, tần số cao 120 và 130Hz, thành phần tần số thấp. Việc xử lý nhiễu tín hiệu điện tim là một quá trình quan trọng.
Qua kết quả thử nghiệm với tín hiệu điện tim trong bộ cơ sở dữ liệu MIT-BIH, cho thấy hoàn toàn có thể triển khai các bộ lọc số trên vi xử lý để thay thế các bộ lọc tương tự cổ điển, bởi những ưu điểm nổi bật của nó về độ chính xác, dễ dàng thay đổi đặc tính của bộ lọc. Tuy nhiên, để loại bỏ phần nhiễu phủ chồng lên dải tần số có nghĩa của tín hiệu điện tim ECG là khá phức tạp.