phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1: BÀI TOÁN DỰ BÁO NGUY CƠ CHÁY RỪNG 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 1. Hƣớng giải quyết bài toán của luận văn CHƢƠNG 2: MẠNG NƠ RON NHÂN TẠO 2. Nơ ron nhân tạo 2.
Mạng nơ ron nhân tạo 2. Huấn luyện mạng nơ ron 2. Thiết kế mô hình mạng nơ ron truyền thẳng CHƢƠNG 3: XÂY DỰNG MÔ HÌNH MẠNG NƠ RON SÂU ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ CHÁY RỪNG TẠI LÂM ĐỒNG 3. Vùng nghiên cứu 3.
Thu thập dữ liệu cháy rừng trong quá khứ và các yếu tố liên quan 3. Xây dựng các tập dữ liệu huấn luyện và kiểm tra mô hình 3. Đánh giá khả năng dự báo của từng yếu tố đầu vào 13 3. Thiết kế kiến trúc mô hình 3.
Chọn thuật toán huấn luyện mô hình 3. Phƣơng pháp đánh giá mô hình 3. Huấn luyện mô hình 3. Thành lập bản đồ phân vùng nguy cơ cháy rừng cho tỉnh Lâm Đồng 3.
So sánh kết quả với một số phƣơng pháp học máy khác 14 CHƢƠNG 1: BÀI TOÁN DỰ BÁO NGUY CƠ CHÁY RỪNG 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Đã có nhiều phƣơng pháp hoặc mô hình khác nhau đƣợc đề xuất cho nghiên cứu cháy rừng1. Các mô hình dựa trên khoa học tự nhiên, nhƣ toán học (Pastor, et al., 2003) và vật lý (Séro-Guillaume & Margerit, 2002), thƣờng gồm một hệ phƣơng trình mà giá trị nghiệm của chúng chỉ ra sự phát triển theo không gian, thời gian của các biến số nhƣ tốc độ lan truyền, chiều cao của đám cháy.
Do đó, chúng có thể mô phỏng hoạt động của đám cháy. Các mô hình khoa học tự nhiên phổ biến nhất là EMBYR (Hargrove, et al., 2000), FARSITE (Keane, et al., 1998), FDS (McGrattan, et al., 2013), FIRETEC (Linn, et al., 2002), FireStation (Lopes, et al., 2002) và LANDIS-II (Sturtevant, et al. Tuy nhiên, khó có thể đánh giá đƣợc độ chính xác của các mô hình này, ví dụ FARSITE, do nó phụ thuộc vào việc lựa chọn vị trí phát lửa, cái khác nhau giữa các vùng nghiên cứu và các điều kiện thời tiết (Massada, et al. Những hạn chế khác của các mô hình khoa học tự nhiên là khối lƣợng tính toán lớn và đòi hỏi những dữ liệu chi tiết nhƣ vị trí và kích thƣớc của cây, phân bố không gian của nhiên liệu và độ ẩm, là những thứ khó có thể thu thập đƣợc cho một khu vực rộng lớn (Pimont, 2016).
Các phƣơng pháp thống kê cũng đƣợc sử dụng để mô hình hóa cháy rừng do tính chất ngẫu nhiên cố hữu của hiện tƣợng cháy rừng ở tất cả các quy mô (Taylor, et al. Tất cả các hoạt động của cháy rừng nhƣ phát lửa, bùng phát và tàn lụi đều chịu ảnh hƣởng bởi điều kiện thời tiết, cái khó có thể biết đƣợc chính xác. Các mô hình thống kê đƣợc dùng để định lƣợng sự không chắc chắn này (Bianchini, et al., 2015; Amatulli, et al. Đặc biệt, khi kết hợp các phƣơng pháp thống kê với hệ thông tin địa lý (GIS) (Bonham-Carter, 1 Tham khảo tài liệu mục [3] 15 2014), ta có thể xây dựng mô hình cháy rừng cho các vùng lớn do khả năng thu thập và xử lý dữ liệu không gian tốt của GIS (Bui, et al., 2016; Teodoro & Duarte, 2013; Chuvieco, et al., 2010; Verde & Zêzere, 2010; Wittenberg & Malkinson, 2009).
Đã có nhiều phƣơng pháp thống kê khác nhau đƣợc sử dụng để mô hình hóa cháy rừng nhƣ hồi quy Poisson (Wotton, et al., 2003), phân bố Pareto tổng quát (Bermudez, et al., 2009), mô phỏng Monte Carlo (Conedera, et al., 2011), hồi quy tuyến tính bội (Oliveira, et al., 2012), hồi quy logistic (Pourghasemi, 2015; Arndt, et al., 2013; Chuvieco, et al., 2010) và hồi quy trọng số địa lý (Oliveira, et al. Nhìn chung, các phƣơng pháp thống kê đều dựa trên giả thiết rằng mối quan hệ giữa các biến (yếu tố) đầu vào và cháy rừng là nhƣ nhau trong cả quá khứ và tƣơng lai. Tuy nhiên, do cháy rừng một quá trình phức tạp, nên trong các bài toán mô hình hóa cháy rừng với nhiều yếu tố ảnh hƣởng và khối lƣợng dữ liệu lớn (cho vùng nghiên cứu rộng), độ chính xác dự báo của các mô hình thống kê vẫn còn hạn chế (Bui, et al. Để nâng cao độ chính xác dự báo của các mô hình cháy rừng, các kỹ thuật học máy đã đƣợc đề xuất do chúng làm việc tốt với dữ liệu lớn, có nhiều đầu vào.
Trong các phƣơng pháp này, bài toán mô hình hóa và dự báo nguy cơ cháy rừng đƣợc xem nhƣ bài toán phân lớp cho các ô trên bản đồ raster với hai lớp: cháy rừng và không cháy. Các phƣơng pháp này bao gồm cây quyết định (Müller, et al., 2013; Camp, et al., 1997), các phƣơng pháp kernel (Jiang, et al., 2015; Gonzalez-Olabarria, et al., 2012), rừng ngẫu nhiên (Arpaci, et al., 2014; Oliveira, et al., 2012), hồi quy logistic kernel (Bui, et al., 2016), entropy tối đa (maximum entropy) (Chen, et al., 2015; Arpaci, et al., 2014) và mạng nơ ron nhân tạo (Satir, et al., 2016; Cheng & Wang, 2008; Vasconcelos, et al. Nhìn chung, độ chính xác dự báo của các phƣơng pháp học máy là tốt hơn các mô hình thống kê (Pourtaghi, et al., 2015; Massada, et al., 2013; Oliveira, et al. 16 Tuy nhiên, bài toán dự báo nguy cơ cháy rừng ở quy mô vùng lớn vẫn còn khó khăn do sự thiếu chính xác (imprecision) của dữ liệu không gian GIS thu thập đƣợc.
Điều này có thể xuất phát từ tuổi, tỉ lệ và độ phân giải khác nhau của dữ liệu. Mô hình dự báo nguy cơ cháy rừng đòi hỏi phải thu thập dữ liệu của nhiều yếu tố gây cháy khác nhau nhƣ điều kiện thời tiết (nhiệt độ, độ ẩm, lƣợng mƣa và gió), địa hình (độ cao, độ dốc, hƣớng dốc), tình trạng sử dụng đất (Ganteaume, et al. Do đó, rất khó để loại bỏ tính thiếu chính xác của dữ liệu (Bui, et al. Để giải quyết vấn đề này, các phƣơng pháp dựa trên tập mờ và suy diễn mờ đã đƣợc đề xuất (Boschetti, et al., 2010; Vadrevu, et al.
Trong các phƣơng pháp này, hàm thuộc mờ cho các biến đƣợc xác định theo kinh nghiệm của ngƣời thiết kế hoặc theo cách tiếp cận hƣớng dữ liệu (data-driven). Việc xác định một cách chủ quan các hàm thuộc mờ có thể làm hạn chế tính chính xác dự báo của phƣơng pháp (Bui, et al., 2017), còn tập mờ sinh ra từ cách tiếp cận hƣớng dữ liệu thƣờng khó có một nhãn ngôn ngữ phù hợp, do đó tri thức thu thập đƣợc từ bài toán sẽ thiếu tính dễ hiểu (Nguyen, et al. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Về tổng thể, có khoảng cách lớn giữa các nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc về dự báo nguy cơ cháy rừng do các nghiên cứu trong nƣớc chỉ sử dụng các mô hình truyền thống, đã có từ lâu, nhƣ theo chỉ số tổng hợp (P) của Nesterov (Nesterov, 1949) đƣợc tính từ giá trị của các yếu tố khí tƣợng gồm nhiệt độ, độ ẩm không khí và lƣợng mƣa, hoặc có cải tiến để phù hợp với điều kiện Việt Nam 2 (Hƣng, 2004) bằng cách sử dụng thêm các yếu tố nhƣ kiểu rừng, sức gió và mức sƣơng mù (fog level). Có thể thấy rằng các phƣơng pháp dự báo nguy cơ cháy rừng này không sử dụng các yếu tố quan trọng khác nhƣ các chỉ số thảm thực vật (NDVI, NDWI, NDMI), chỉ số ẩm địa hình (TWI), 2 Tham khảo tài liệu [4] 17 khoảng cách tới đƣờng giao thông, khoảng cách tới khu dân cƣ, độ dốc, hƣớng dốc, là những yếu tố đã đƣợc chứng minh có khả năng dự báo cao trong cháy rừng (Bui, et al., 2017; Bui, et al., 2016; Ganteaume, et al.
Ngoài ra, các nghiên cứu này chƣa đề cập đến việc kiểm định độ chính xác của dự báo. Các nhà khoa học của các tổ chức khoa học sau đây đã và đang tiến hành các nghiên cứu nhƣ vậy: Trƣờng Đại học Lâm Nghiệp: Đề tài cấp Nhà nƣớc “Nghiên cứu xây dựng các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên”, mã số KC. Vƣơng Văn Quỳnh làm chủ nhiệm, đã xây dựng phần mềm “Dự báo nguy cơ cháy rừng” cho toàn Việt Nam. Doanh và Quỳnh (2014); Doanh và Châu (2014) nghiên cứu dự báo nguy cơ cháy rừng qua các chỉ số khí hậu của 3 tháng liên tiếp.
Trong các nghiên cứu này, số liệu về nhiệt độ, độ ẩm không khí và lƣợng mƣa đƣợc cung cấp chủ yếu bởi các trạm khí tƣợng thủy văn Quốc gia. Để có thể dự báo cho mọi điểm trên toàn lãnh thổ, Châu (2012) đã xác lập bộ phƣơng trình phản ánh sự liên hệ giữa giá trị của các yếu tố khí tƣợng nói trên với các yếu tố địa lý nhƣ kinh độ, vĩ độ và độ cao bằng phƣơng pháp hồi quy và xây dựng phƣơng pháp nội suy giá trị của các yếu tố khí tƣợng cho mọi điểm từ số liệu của các trạm khí tƣợng lân cận. Nhƣ vậy, các nghiên cứu này không sử dụng dữ liệu viễn thám. Trƣờng Đại học Cần Thơ: Ngoài chỉ số P, Hùng và nnk (2010;2008) còn sử dụng chỉ số độ ẩm vật liệu cháy và chỉ số tổng hợp của hai chỉ số trên để dự báo nguy cơ cháy rừng cho khu vực Vƣờn Quốc gia U Minh Hạ.
Gần đây, trong bài báo (Thạch, et al., 2017), các tác giả thành lập bản đồ nguy cơ cháy rừng cho tỉnh Sơn La bằng cách sử dụng phƣơng pháp phân tích thứ bậc (AHP) để xác định trọng số của các yếu tố ảnh hƣởng gồm: độ dốc, độ cao, độ ẩm cực tiểu, hƣớng dốc, kiểu rừng, khoảng cách tới 18 sông/suối, khoảng cách tới đƣờng giao thông, khoảng cách tới khu dân cƣ và khoảng cách tới nƣơng dẫy. Nhƣ vậy, hàm xác định chỉ số nguy cơ cháy rừng ở đây là tuyến tính đối với các yếu tố ảnh hƣởng. Ở nƣớc ta hiện nay, việc phát triển các mô hình dự báo nguy cơ cháy rừng sử dụng các kỹ thuật học máy còn chƣa nhiều. Bui TD và nnk (2016a) đã sử dụng kỹ thuật học máy hồi quy kernel logistic để mô hình hóa và thành lập bản đồ nguy cơ cháy rừng cho khu vực vƣờn Quốc gia Cát Bà, Hải Phòng.
Mƣời yếu tố ảnh hƣởng sử dụng trong nghiên cứu này là chỉ số thực vật NVDI, chỉ số độ ẩm địa hình TWI, loại hình che phủ đất, nhiệt độ, độ dốc, hƣớng dốc, khoảng cách tới khu dân cƣ, khoảng cách tới đƣờng giao thông, lƣợng mƣa và sức gió. Kết quả cho thấy mô hình đề xuất có độ chính xác cao, vƣợt trội so với mô máy véc tơ hỗ trợ (SVM), thƣờng đƣợc dùng làm chuẩn so sánh cho bài toán phân lớp.