CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẢM BẢO VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 1.1 Các nghiên cứu về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục đại học Bước vào thế kỷ 21 với những cơ hội và thách thức mới, mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam đang không ngừng nỗ lực đổi mới toàn diện để kịp thích ứng với những yêu cầu mới đặt ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, nghệ thuật…Trong đó, chất lượng giáo dục nói chung hay chất lượng GDĐH nói riêng luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu bởi nó có ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ đến con người – nguồn nhân lực quyết định sự phát triển xã hội. Nói cách khác, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững”. Đảm bảo chất lượng là một trong những cấp độ của quản lý chất lượng đã được nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh từ những năm 80 của thế kỷ XX và sau được áp dụng vào lĩnh vực giáo dục cũng như GDĐH.
Kiểm định chất lượng, biện pháp quản lý chất lượng theo mô hình ĐBCL ở cấp quốc gia cũng ra đời từ đó. Trong nước và trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐBCL và KĐCL trong đó bao gồm ĐBCL và KĐCL GDĐH, sau đây là một số nét khái quát về một số công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn.1 Nghiên cứu trong nước Về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (ĐBCL GDĐH), một số công trình nghiên cứu và bài báo khoa học liên quan đã được công bố: “Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo hệ đại học ở trường đại học Thủy sản” do Lê Văn Hào làm chủ nhiệm và một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học hay các tờ báo giáo dục như: “Nhận diện vấn đề đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” và “Một số giải pháp chủ yếu về quản lý chất lượng đào tạo đại học ở nước ta hiện nay của Đặng Xuân Hải – Đỗ Công Vịnh; “Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: sự vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam” của Phạm Xuân Thanh; “Xây dựng hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học tại Việt Nam” của Bùi Võ Anh Hào; “Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam” của Nguyễn Thị Khánh Trinh và “Chất lượng, quản lí chất lượng và đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học” của Nguyễn Trung Thành. Hầu hết các công trình nghiên cứu và bài viết đều tập trung đưa ra quan điểm thế nào là ĐBCL, nhận diện một số vấn đề về công tác ĐBCL, tham khảo kinh nghiệm ĐBCL của một số quốc gia và đưa ra đề xuất, kiến nghị đối với việc áp dụng ĐBCL trong các cơ sở GDĐH tại Việt Nam. 1 Song, các nghiên cứu chưa nêu rõ quy trình xây dựng, các tiêu chí ĐBCL cũng như mối liên hệ để vận dụng trong các hoạt động ĐBCL trong các CSGD.
“Nghiên cứu xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng ở các trường cao đẳng” của Trần Linh Quân đã đi sâu hơn vào nghiên cứu xây dựng hệ thống ĐBCL ở các trường cao đẳng thông qua việc khảo nghiệm đề xuất quy trình và bộ tiêu chí đánh giá các hoạt động trong hệ thống ĐBCL. Kết quả cho thấy ý kiến đề xuất của tác giả có tính khả thi để đưa vào áp dụng trong thực tế. Tuy nhiên, các đa số các đề tài liên quan đến ĐBCL GDĐH nói chung đề cập chủ yếu đến ĐBCL bên trong CSGD, còn hạn chế tính liên hệ với ĐBCL bên ngoài CSGD, mối liên hệ với KĐCL – một công cụ quan trọng để thực hiện ĐBCL. Về kiểm định chất lượng giáo dục đại học (KĐCL GDĐH), một số công trình nghiên cứu đã có đề cập chi tiết về lý thuyết KĐCL giáo dục, chất lượng kiểm định giáo dục đại học tại Việt Nam, kinh nghiệm KĐCL của các quốc gia và đề xuất xây dựng hệ thống KĐCL GDĐH tập trung vào cải tiến chất lượng các tiêu chí, tiêu chuẩn.
Tiêu biểu là công trình “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học” do Nguyễn Đức Chính chủ biên đã làm rõ cơ sở lí luận về KĐCL trong GDĐH, đề cập đến bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện ĐBCL đào tạo, hướng dẫn KĐCL dùng cho các đại học ở Việt Nam cũng như phân tích về các mô hình KĐCL GDĐH trên thế giới. Đây được xem như nghiên cứu gợi mở về KĐCL GDĐH tại Việt Nam. Dù vậy, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số vấn đề về hạn chế trong cách tiếp cận của bộ tiêu chí và chỉ số đánh giá còn chiếm tỉ lệ thấp. Công trình “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và chất lượng kiểm định giáo dục đại học tại Việt Nam” do Nguyễn Hữu Châu chủ nhiệm đề tài đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng GD và đánh giá chất lượng GD, các tiêu chí về chất lượng GD và phương pháp đánh giá GD.
Bên cạnh đó, một số bài báo trên tạp chí giáo dục như “Phân biệt ba mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: Kiểm định chất lượng, đánh giá chất lượng và kiểm toán chất lượng” và “Một số kết quả đạt được của kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam và kế hoạch triển khai trong tương lai” của Nguyễn Hữu Cương; “Kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Hoa Kỳ và những bài học đối với Việt Nam” của Trần Thị Ngọc Bích và Nguyễn Vinh Quang hay “Thực trạng và xu hướng kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam” của Nguyễn Quang Vinh đã phần nào phản ánh thực trạng KĐCL GDĐH Việt Nam hiện nay sau gần 20 năm triển khai cùng với xu hướng và kế hoạch đề xuất thực hiện công tác KĐCL cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo GDĐH sau khi kết thúc “Đề án Xây dựng và phát triển hệ thống 2 KĐCL giáo dục đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011 – 2020” của Bộ GD&ĐT. Trong nghiên cứu về Đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục, tác giả Đỗ Thúy Hằng đã trình bày bối cảnh tăng cường ĐBCL và KĐCL GDĐH, tổng quan về ĐBCL giáo dục, hệ thống và các mô hình ĐBCL giáo dục, KĐCL giáo dục, KĐCL chương trình đào tạo. Tác giả nhận định việc số lượng các trường đại học gia tăng đang dẫn đến nguy cơ sụt giảm chất lượng GDĐH những năm gần đây. Do đó, ĐBCL và KĐCL GDĐH là công cụ để duy trì chất lượng giáo dục đại học.
Theo tác giả để sử dụng hiệu quả công cụ này, vấn đề căn bản là cần xây dựng hệ thống tiêu chí kiểm định phù hợp, tổ chức đánh giá công khai kết quả kiểm định, gắn kết quả KĐCL với quyền lợi và nghĩa vụ của cơ sở giáo dục để mỗi đơn vị có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ kiểm định hiệu quả.2 Nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, ĐBCL và KĐCL GDĐH được nghiên cứu từ sớm, bắt nguồn từ luận điểm “hướng tới khách hàng” của Deming, Juran và Ishikawa về đảm bảo chất lượng. Sau khi được áp dụng vào lĩnh vực giáo dục, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau, mô hình đảm bảo chất lượng được nhiều quốc gia sử dụng hiểu là “xây dựng bộ tiêu chí và chuẩn, thực hiện kiểm định chất lượng các trường/chương trình đào tạo theo bộ tiêu chí và chuẩn đã được ban hành” [1]. Nhiều nghiên cứu về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học trên thế giới chỉ ra rằng ĐBCL GDĐH có những đặc trưng nhất định. Có thể kể đến một số công trình và bài viết như: “Quality Management in universities” của Warren Piper năm 1993 quan niệm “Đảm bảo chất lượng là tổng số các cơ chế và quy trình được áp dụng nhằm đảm bảo chất lượng đã được định trước hoặc việc cải tiến chất lượng liên tục, bao gồm hoạch định, việc xác định, khuyến khích, đánh giá và kiểm soát chất lượng” [3]; hay Lazăr VLĂSCEANU, Laura GRÜNBERG và Dan PÂRLEA định nghĩa “ĐBCL là một thuật ngữ chung đề cập đến một quá trình đánh giá liên tục, liên tục (đánh giá, giám sát, đảm bảo, duy trì và cải tiến chất lượng của một hệ thống giáo dục đại học, các tổ chức, hoặc các chương trình).
Là một cơ chế quản lý, chất lượng đảm bảo tập trung vào cả trách nhiệm giải trình và cải tiến, cung cấp thông tin và đánh giá (không xếp hạng thông qua một quy trình đã được thống nhất và nhất quán và các tiêu chí được thiết lập tốt). Đảm bảo chất lượng thường được coi là một phần của quản lý chất lượng giáo dục đại học, trong khi đôi khi hai thuật ngữ được sử dụng đồng nghĩa.” [4] Ngoài ra, có thể đề cập đến nghiên cứu của R. Freeman (1994) đã chỉ ra 5 nguyên tắc đảm bảo chất lượng hay trong bài viết “Quality Assurance in Higher Education”, 3 M. Flazer (1992) đã xác định được 4 thành phần chính trong đảm bảo chất lượng là đầu vào, cơ chế quản lý, quá trình và sản phẩm.
Liên quan đến đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, kiểm định chất lượng thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu mặc dù thuật ngữ này thường được sử dụng phổ biến tại Mỹ. Hội đồng Kiểm định Giáo dục đại học Hoa Kỳ (CHEA - Council for Higher Education Accreditation) định nghĩa “KĐCL là một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được GDĐH sử dụng để khảo sát, đánh giá các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng”. Tổ chức các Bộ trưởng giáo dục Đông Nam Á (SEAMEO - The Southeast Asian Ministers of Education Organzation)) cũng có quan điểm tương tự và cho rằng “một đánh giá không nhằm đưa ra một quyết định công nhận thì không phải kiểm định chất lượng”. Bộ giáo dục Hoa Kỳ (USDE – U.S Department of Education) mô tả việc thực hành kiểm định là “một phương tiện tiến hành đánh giá đồng cấp, phi chính phủ đối với các cơ sở và chương trình giáo dục”.
Trong “Accreditation on the Edge”, Susan D. Phillips và Kevin Kinser tập hợp kiến thức chuyên môn của các bên liên quan khác nhau để minh họa sự phức tạp của hệ thống kiểm định và vạch ra các vấn đề quan trọng cần phải giải quyết trong tương lai.