Chương 1: Mô hình hóa đối với định lí côsin trong dạy học ở Việt Nam và Mỹ Phân tích và so sánh hai thể chế nhằm tìm ra những mặt tích cực và hạn chế, phục vụ cho việc xây dựng thực nghiệm. Chương 2: Nghiên cứu thực nghiệm Nhằm xây dựng tiểu đồ án dạy học bằng mô hình hóa, thực nghiệm và rút ra kết luận. SƠ LƯỢC MỘT SỐ YẾU TỐ VỀ ĐỊNH LÍ CÔSIN Mục này giúp giải đáp câu hỏi 1: Định lí côsin ra đời như thế nào, có vai trò gì trong thực tiễn? Định lí côsin ở đây được nói đến trong phạm vi hình học Euclid (không phải hình học phi Euclid). Về sự xuất hiện 10 Theo Pickover (2009) thì từ thế kỉ III trước công nguyên, định lí côsin đã ngầm xuất hiện trong công trình Những nguyên lí của Euclid.
Để cụ thể hơn, chúng tôi dịch ở mệnh đề 12, quyển 2 (thể loại thuộc đại số hình học) trong bản tiếng Anh của Fitzpatrick như sau: Trong các tam giác tù, hình vuông trên cạnh đối diện góc tù lớn hơn (tổng của) các hình vuông trên hai cạnh chứa góc tù hai lần hình chữ nhật gồm một trong các cạnh là cạnh kề góc tù – cạnh mà có đường thẳng vuông góc hạ xuống, và đoạn thẳng bị chặn lại bên ngoài tam giác bởi đường vuông góc hướng về góc tù. Do đó sự so sánh lớn hơn, nhỏ hơn giữa các hình hay các thao tác thêm bớt các hình là làm việc trên diện tích của chúng. Như vậy, hình vuông hay hình chữ nhật trong phát biểu trên tức là diện tích hình vuông, diện tích hình chữ nhật). Có thể hiểu định lí này theo ngôn ngữ hiện tại là: “Trong một tam giác tù, bình phương cạnh đối diện góc tù bằng tổng bình phương của hai cạnh bên rồi cộng thêm hai lần tích của một cạnh bên và hình chiếu vuông góc của cạnh bên còn lại trên cạnh bên đó”.
Tóm tắt bài toán Tam giác ABC có góc A tù. 𝐴𝐷 Nếu đối chứng lại với công thức định lí côsin ngày nay thì: ̂ 𝐵𝐶 2 = 𝐴𝐵2 + 𝐴𝐶 2 − 2. 𝑐𝑜𝑠𝐵𝐴𝐷 ̂ nên hai hệ thức này là tương đương với nhau. 11 Có thể thấy một sự tương ứng giữa mệnh đề 12 của Euclid và định lí côsin bây giờ: Euclid Chúng ta 𝑎2 = 𝑏 2 + 𝑐 2 − 2𝑏𝑐.
𝑐𝑜𝑠𝐴 𝑏 2 tương ứng với diện tích hình vuông cạnh b, 𝑐 2 tương ứng với diện tích hình vuông cạnh c và cả hạng tử chứa 𝑐𝑜𝑠𝐴 tương ứng là diện tích hai hình chữ nhật kích thước b x m. Vào lúc đó, đối tượng mà Euclid làm việc là các tam giác, hình vuông, hình chữ nhật, hình bình hành, đường tròn … và sử dụng những định nghĩa, tiên đề, mệnh đề riêng của mình để chứng minh các phát biểu của ông. Ví dụ như theo Fitzpatrick (2008): Tiên đề 2, quyển 1: “Nếu cùng thêm những thứ bằng nhau vào những thứ bằng nhau khác thì những tổng thể sẽ bằng nhau” Mệnh đề 47, quyển 1: “Trong một tam giác vuông, hình vuông trên cạnh đối diện góc vuông bằng (tổng của) các hình vuông trên các cạnh góc vuông” Mệnh đề 4, quyển 2: “Nếu một đoạn thẳng bị cắt ngẫu nhiên thì hình vuông trên đoạn tổng thể (đoạn thẳng đó) bằng với (tổng của) các hình vuông trên đoạn từng phần (của đoạn thẳng đó), và hai lần hình chữ nhật có kích thước là các đoạn từng phần”. 12 Chúng tôi diễn tả lại cách chứng minh của Euclid theo cách viết bây giờ cho gọn hơn (tức diện tích hình vuông sẽ thay bằng bình phương cạnh hình vuông, tương tự cho hình chữ nhật): Vì DC bị điểm A chia cắt nên theo mệnh đề 4 quyển 2 thì: 𝐷𝐶 2 = 𝐶𝐴2 + 𝐴𝐷2 + 2.
𝐴𝐷 Thêm vào hai vế với 𝐷𝐵2 , ta được: 𝐷𝐵2 + 𝐷𝐶 2 = 𝐷𝐵2 + 𝐶𝐴2 + 𝐴𝐷2 + 2. Trường hợp dành cho góc nhọn cũng được phát biểu trong mệnh đề 13 tiếp theo của quyển 2: Trong các tam giác nhọn, hình vuông trên cạnh đối diện một góc nhọn bé hơn (tổng của) các hình vuông trên hai cạnh chứa góc nhọn đó hai lần hình chữ nhật gồm một trong các cạnh là cạnh kề góc nhọn đó – cạnh mà có đường vuông góc hạ xuống, và đoạn thẳng bị chặn lại bên trong tam giác bởi đường vuông góc hướng về góc nhọn. (Fitzpatrick, 2008) Minh họa bài toán: Tam giác ABC nhọn. Xét góc nhọn B, khi đó ta có: 𝐴𝐶 2 = 𝐴𝐵2 + 𝐵𝐶 2 − 2.
𝐵𝐷 Chứng minh tương tự như trên. Và theo cách lí luận hiện đại thì 𝐵𝐷 = 𝐴𝐵. 𝑐𝑜𝑠𝐵, khớp với công thức định lí côsin 𝐴𝐶 2 = 𝐴𝐵2 + 𝐵𝐶 2 − 2. Tới thế kỉ XV, nhà thiên văn học, toán học người Ba Tư al – Kashi cung cấp các bảng lượng giác chính xác và diễn đạt định lí theo một dạng phù hợp cách sử 13 dụng hiện đại (Pickover, 2009).
Do không tìm thấy tài liệu nên chúng tôi không biết ông đã biểu diễn định lí thế nào. Sau đó một thế kỉ, định lí côsin được Viète tìm ra độc lập với al – Kashi (Pickover, 2009) và Viète đã phát biểu vào năm 1593 (Sullivan, 2012). Cuối cùng, định lí côsin có biểu thức như ngày nay nhờ vào sự đổi mới của hệ thống biểu đạt toán học. Như vậy, định lí côsin có mầm mống từ những bài toán hình học, qua các thời kì phát triển của toán học mà có được cách viết này.
Các cách chứng minh định lí côsin đã có trong nhiều tài liệu nên chúng tôi không trình bày lại. Trở lại với công thức định lí côsin: Trong tam giác ABC cho trước, ta có 𝑎2 = 𝑏 2 + 𝑐 2 − 2𝑏𝑐. 𝑐𝑜𝑠𝐴 với 𝐴𝐵 = 𝑐, 𝐴𝐶 = 𝑏, 𝐵𝐶 = 𝑎 Có bốn yếu tố xuất hiện trong biểu thức: ba cạnh và một góc trong tam giác. Vì đây là phương trình bậc hai đơn giản nên khi cho ba yếu tố trong tam giác này, ta sẽ tìm được yếu tố còn lại: ba cạnh góc, hai cạnh và một góc cạnh.
Như vậy, các trường hợp khác nhau khi sử dụng đến định lí côsin có thể là: Cho Tìm c.g c Tuy nhiên, với thông tin hai cạnh và một góc đối (c.g) tùy ý thì tam giác có thể không tồn tại, xác định duy nhất hoặc tồn tại cả hai tam giác. Hình ảnh sau có thể minh họa rõ hơn (Larson, 2013) Lúc này, khi thế các giả thiết vào công thức định lí côsin thì hệ thức trở thành phương trình bậc hai một ẩn với ẩn là cạnh chưa biết. Vì thế mà giá trị cạnh cần tính cũng có 14 thể cho kết quả âm (không tồn tại tam giác), ra một nghiệm dương (tồn tại duy nhất tam giác) hoặc hai nghiệm dương (có hai tam giác thỏa mãn). Về tính ứng dụng trong thực tế Định lí côsin dễ dàng được ứng dụng trong những tình huống có mô hình gần giống với tam giác.
Trong một số giáo trình sử dụng cho bậc THPT ở một số nước nói tiếng Anh như Precalculus 4e (Blitzer, 2007), Precalculus 9e (Larson, 2013), Precalculus 6e: Mathematics for calculus (Stewart, Redlin, & Watson, 2010) và Algebraic & Trigonometry (Sullivan, 2012), chúng tôi thấy định lí côsin được áp dụng cho một số trường hợp như: Tính được khoảng cách giữa hai vị trí bị cản trở, khó đo đạc (Stewart, Redlin, & Watson, 2010) (Stewart, 2010) Tính góc so với một hướng cố định đã biết để tìm được hướng cần đi tới điểm đến (Sullivan, 2012) (Blitzer, 2007) Tính toán độ dài, khoảng cách thông thường 15 (Larson, 2013) (Larson, 2013) (Sullivan, 2012) Tính toán góc, độ dài trong mô hình tam giác thay đổi (Larson, 2013) (Larson, 2013) Có thể thấy định lí côsin là biểu thức dùng tính toán các yếu tố về cạnh và góc trong tam giác. Điều đó dẫn đến các vấn đề thực tế muốn được định lí côsin giải quyết thì phải tồn tại mô hình tam giác tương ứng. Như vậy, định lí côsin đã xuất hiện từ thời Euclid trong hình hài của một mệnh đề về các hình đa giác, mà việc chứng minh chúng phải dựa vào hệ thống các tiên đề, định đề, định nghĩa, mệnh đề do Euclid xây dựng nên. Trải qua một thời gian rất dài, đến thế kỉ XV, al – Kashi mới công bố về định lí côsin với cách diễn đạt thuận tiện và tổng quát hơn.
Viète độc lập tìm ra định lí côsin vào thế kỉ XVI. Cuối cùng, định lí côsin đã được sử dụng như cách viết hiện nay. Định lí côsin có nhiều ứng dụng hữu ích trong thực tiễn, liên quan đến nhu cầu tính toán khoảng cách, góc trong những mô hình tam giác. Pickover (2009) cũng đã nhận xét rằng “ứng dụng của định lí trải dài từ khảo sát địa chất đến tính toán đường bay của máy bay”.
Những ghi nhận trên cho chúng ta thấy từ thời Hy Lạp cổ đại đến nay, định lí côsin đã được sử dụng trong những tính toán hình học và nó là công cụ không thể thiếu được trong các đo đạc thực tế hay mô phỏng. Với hệ thống công cụ toán học đầy đủ như bây giờ cũng như sự đa dạng của khoa học giáo dục, chúng ta có nhiều thuận lợi trong việc xây dựng được tình huống dạy học tích cực cho HS. Để phục vụ mục đích dạy học này, theo chúng tôi, có thể 16 chọn những ứng dụng thức tế trên để xây dựng một quy trình dạy học: Từ nhu cầu giải quyết vấn đề thực tế mà giúp HS tìm ra định lí côsin. MÔ HÌNH HÓA TRONG DẠY HỌC ĐỊNH LÍ CÔSIN Ở VIỆT NAM VÀ MỸ Mục đích phân tích: Trả lời cho câu hỏi 2, 3: “Quan hệ của thể chế dạy học hình học 10 đối với định lí côsin trong mối liên hệ với mô hình hóa ra sao? Cùng tri thức này thì thể chế dạy học Việt Nam và thể chế dạy học một nước khác có những tương đồng và khác biệt gì?”.
Chúng tôi chọn sách giáo khoa Mỹ. Cụ thể là sách Precalculus (gọi tắt là P) của Franklin D. Demana và các cộng sự, xuất bản năm 2011. Giáo trình này sử dụng cho bậc THPT, có nội dung khá phong phú về các vấn đề toán học và vận dụng nó vào thực tế.
Việc phân tích, so sánh hai thể chế dạy học định lí côsin ở Việt Nam và Mỹ nhằm mục đích tìm kiếm các đặc trưng của mô hình hóa, những điểm tích cực và hạn chế. Kết quả đó có thể là cơ sở để chúng tôi xây dựng thực nghiệm. Để tiện trình bày, chúng tôi gọi tắt SGK hình học 10 cơ bản là H1, SGK hình học 10 nâng cao là H2. DẠY HỌC ĐỊNH LÍ CÔSIN Ở VIỆT NAM 1.