Tổng quan nghiên cứu

Khu vực miền núi phía Bắc hiện có tổng cộng 2.372 hồ chứa thủy lợi, trong đó các hồ có dung tích từ 3 triệu m3 trở xuống chiếm tới 98,6% với 2.338 công trình, và riêng nhóm hồ nhỏ có dung tích dưới 500.000 m3 chiếm khoảng 86%. Hệ thống hồ đập nhỏ giữ vai trò huyết mạch trong việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của đồng bào các dân tộc. Tuy nhiên, hiệu quả cấp nước thực tế hiện nay chỉ đạt từ 50% đến 60% so với năng lực thiết kế, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng do 98% là đập đất và hơn 64% tràn xả lũ chưa được kiên cố hóa. Vấn đề cốt lõi đặt ra là ngân sách nhà nước không thể bao cấp toàn bộ nguồn vốn hàng ngàn tỷ đồng để duy tu, sửa chữa, trong khi cơ chế huy động nguồn lực xã hội còn nhiều điểm nghẽn.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung đánh giá toàn diện thực trạng đầu tư xây dựng, quản lý khai thác hệ thống hồ đập nhỏ tại vùng miền núi phía Bắc; từ đó xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các mô hình, giải pháp thúc đẩy xã hội hóa đầu tư và quản lý vận hành phù hợp với Luật Thủy lợi năm 2017. Phạm vi nghiên cứu được triển khai chuyên sâu tại 3 tỉnh đại diện gồm Hòa Bình, Tuyên Quang và Lào Cai trong giai đoạn khảo sát từ năm 2015 đến năm 2019. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn vốn đầu tư ước tính 1.243,3 tỷ đồng tại 3 địa phương khảo sát, nâng cao năng lực cấp nước cho hơn 320.900 ha đất canh tác nông nghiệp toàn vùng và thiết lập cơ chế tự chủ tài chính bền vững cho các tổ chức thủy lợi cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Đối tác công - tư (Public-Private Partnerships - PPP) trong phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn và cung ứng dịch vụ công, theo khung phân tích của Vermillion và Sagardoy (1999) với 7 mô hình quản lý ngoài nhà nước và 4 mối quan hệ tương tác giữa cơ quan hoạch định, đơn vị cung cấp, người thụ hưởng và cơ chế chi trả phí. Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết Quản lý tưới có sự tham gia của người dân (Participatory Irrigation Management - PIM) do Ngân hàng Thế giới và David Groenfeldt phát triển, nhấn mạnh vai trò làm chủ của cộng đồng từ khâu quy hoạch, xây dựng đến vận hành và bảo dưỡng (O&M).

Khung lý thuyết của luận văn vận hành xoay quanh 4 khái niệm then chốt: "Hồ đập nhỏ" được định danh chuẩn xác theo Nghị định số 67/2018/NĐ-CP với dung tích toàn bộ dưới 500.000 m3 và chiều cao đập dưới 10m; "Xã hội hóa thủy lợi" là phương thức chia sẻ trách nhiệm, rủi ro và lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; "Tổ chức thủy lợi cơ sở" gồm Hợp tác xã và Tổ hợp tác theo Luật Thủy lợi năm 2017; "Quản lý an toàn đập dựa vào cộng đồng" theo mô hình giảm thiểu rủi ro thảm họa Tameike của Nhật Bản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm số liệu thống kê toàn diện về 2.470 hồ chứa từ Tổng cục Thủy lợi và dữ liệu khảo sát thực địa chi tiết. Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế gồm 48 công trình hồ đập nhỏ phân bố tại 9 xã thuộc 3 tỉnh Hòa Bình, Tuyên Quang và Lào Cai. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng có chủ đích, bảo đảm tính đại diện cao về mặt địa hình đồi núi dốc, quy mô dung tích hồ và các hình thái tổ chức quản lý điển hình như Hợp tác xã, Ban quản lý xã và Tổ hợp tác.

Hệ thống phương pháp phân tích kết hợp giữa định lượng và định tính: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp phỏng vấn sâu bán cấu trúc được áp dụng để thu thập ý kiến trực tiếp từ các hộ dùng nước và chính quyền cơ sở; phương pháp phân tích thống kê mô tả nhằm xử lý tương quan giữa các thông số kỹ thuật, tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương và chi phí quản lý; phương pháp chuyên gia lấy ý kiến của các nhà quản lý và kỹ sư đầu ngành. Việc lựa chọn kết hợp các phương pháp này giúp bóc tách chính xác các nút thắt về cơ chế tài chính và tâm lý ỷ lại vào ngân sách cấp bù thủy lợi phí. Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý số liệu và phân tích mô hình được thực hiện liên tục từ năm 2015 đến khi hoàn thiện vào đầu năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về đặc điểm kỹ thuật và năng lực tưới tiêu, các hồ đập nhỏ vùng miền núi phía Bắc có dung tích bình quân 177.000 m3, diện tích tưới trung bình 35,53 ha/công trình và diện tích lưu vực nhỏ khoảng 1,07 km2. Toàn bộ 98% công trình đầu mối là đập đất với chiều cao bình quân 7,31m. Tỷ lệ tràn xả lũ được kiên cố hóa chỉ đạt 36%, còn lại 64% là tràn đất tự nhiên không có cửa van điều tiết, dẫn đến nguy cơ mất an toàn rất cao khi xảy ra lũ cục bộ. Hệ thống kênh mương sau hồ có tỷ lệ kiên cố hóa thấp và phân hóa không đồng đều: Tuyên Quang đạt 58,25%, Lào Cai đạt trên 60%, trong khi Hòa Bình chỉ đạt 40%; cá biệt tại các xã điều tra của Hòa Bình tỷ lệ kiên cố hóa chỉ đạt 24,7%, khiến diện tích tưới thực tế toàn vùng chỉ đạt 20,45% diện tích đất nông nghiệp.

Thứ hai, về thực trạng huy động vốn đầu tư xây dựng, có sự đứt gãy rõ rệt giữa các giai đoạn lịch sử. Trước năm 1985, sự tham gia của nhân dân qua các đội thủy lợi 202 đóng góp tới 20% - 30% giá trị xây lắp công trình. Ngược lại, trong giai đoạn cải tạo và nâng cấp gần đây, 100% các công trình điều tra đều phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước hoặc vốn vay ODA. Nhu cầu kinh phí xây dựng, nâng cấp hồ đập nhỏ giai đoạn 2015 - 2020 tại 3 tỉnh khảo sát lên tới 1.243,3 tỷ đồng (Hòa Bình cần 480,8 tỷ đồng, Tuyên Quang cần 417,5 tỷ đồng, Lào Cai cần 345 tỷ đồng), tạo nên gánh nặng tài chính công vượt quá khả năng cân đối của các địa phương.

Thứ ba, về bộ máy tổ chức quản lý khai thác, toàn khu vực có 5.142 tổ chức dùng nước nhưng cơ cấu còn phân tán và thiếu tư cách pháp nhân. Mô hình do Ủy ban nhân dân xã trực tiếp quản lý chiếm 27% (1.389 đơn vị), Tổ hợp tác chiếm 46% (2.367 tổ), Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp chiếm 12,5% (621 đơn vị), Ban quản lý thủy nông chiếm 7% (381 ban) và Hợp tác xã dùng nước chỉ chiếm 7,5% (384 đơn vị). Theo các quy định của Luật Thủy lợi năm 2017, có tới 34% số tổ chức hiện tại (gồm toàn bộ mô hình do UBND xã và Ban quản lý thủy nông kiêm nhiệm quản lý) không bảo đảm điều kiện pháp lý và bắt buộc phải giải thể hoặc chuyển đổi mô hình.

+-----------------------------------------------------------------------------+
|               CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ THỦY LỢI CƠ SỞ VÙNG MNPB               |
|                                                                             |
|  [ Tổ hợp tác thủy nông ]           =========================> 46,0%        |
|  [ UBND xã trực tiếp quản lý ]     ===============> 27,0% (*Phải chuyển đổi)|
|  [ HTX Dịch vụ Nông nghiệp ]        =======> 12,5%                           |
|  [ HTX Dùng nước chuyên trách ]     ====> 7,5%                               |
|  [ Ban Quản lý Thủy nông xã ]       ===> 7,0% (*Phải chuyển đổi)             |
+-----------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự xuống cấp của hồ đập nhỏ là sự phụ thuộc một chiều vào chính sách cấp bù thủy lợi phí theo Nghị định số 115/2008/NĐ-CP. Việc bãi bỏ thu phí dịch vụ nội đồng đã vô tình triệt tiêu tính chủ động của người dân, khiến các tổ chức quản lý thiếu nguồn kinh phí chi trả thù lao cho người vận hành và bảo dưỡng thường xuyên. Nguồn kinh phí cấp bù chỉ đủ trang trải các sửa chữa đột xuất mang tính chắp vá, khiến hiệu quả tưới thực tế sụt giảm từ 40% đến 50% so với thiết kế ban đầu.

So sánh với các bài học quốc tế, mô hình chuyển giao quản lý thủy lợi tại Mexico cho thấy tỷ lệ đóng góp của người dân đã tăng từ 15% lên 72% sau khi trao quyền tự chủ tài chính cho các hội dùng nước mà không làm suy giảm chất lượng vận hành. Tại Nhật Bản, mô hình khu tưới tự quản (LID) bắt buộc nông dân đóng góp từ 10,4% đến 15% tổng mức đầu tư xây dựng, giúp gắn chặt trách nhiệm bảo vệ công trình với người hưởng lợi. Tại Việt Nam, điển hình như mô hình trạm bơm điện tư nhân ở tỉnh An Giang đã chứng minh rằng khi chính quyền ban hành cơ chế hỗ trợ 50% lãi suất tín dụng và bảo đảm quyền khai thác từ 7 đến 12 năm, khu vực tư nhân sẵn sàng đầu tư hàng chục tỷ đồng để cung ứng dịch vụ tưới chất lượng cao.

Dữ liệu khảo sát được tổng hợp chi tiết qua các bảng phân bố dung tích và biểu đồ cơ cấu tổ chức quản lý, minh chứng rằng các hồ chứa dưới 0,5 triệu m3 hoàn toàn có thể áp dụng cơ chế quản lý đa mục tiêu kết hợp nuôi trồng thủy sản hoặc cấp nước cho cây ăn quả đặc sản nhằm tạo nguồn thu bù đắp chi phí bảo trì.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách ưu đãi thúc đẩy đối tác công - tư (PPP): Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh ban hành cơ chế chuyển nhượng quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hồ chứa nhỏ cho doanh nghiệp và hợp tác xã theo hình thức Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO) hoặc Quản lý - Vận hành (M&O) với thời hạn ổn định từ 10 đến 25 năm. Đồng thời, áp dụng chính sách hỗ trợ tối thiểu 50% lãi suất vay thương mại cho các dự án tư nhân đầu tư nạo vét, kiên cố hóa đập gắn với phát triển du lịch sinh thái và nông nghiệp giá trị cao. Mục tiêu đạt tỷ lệ huy động vốn ngoài ngân sách tối thiểu 20% tổng nhu cầu vốn đầu tư hồ đập giai đoạn 2020 - 2025.

Thứ hai, chuẩn hóa và tái cơ cấu toàn diện 100% tổ chức thủy lợi cơ sở theo Luật Thủy lợi: Ủy ban nhân dân cấp huyện phối hợp cùng Chi cục Thủy lợi xóa bỏ triệt để mô hình quản lý kiêm nhiệm của 1.389 UBND xã và 381 Ban quản lý thủy nông trong lộ trình 2 năm từ 2020 đến 2022. Chuyển đổi toàn bộ các đơn vị này sang mô hình Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoặc Tổ hợp tác dùng nước có đầy đủ tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản ngân hàng và quy chế hoạt động công khai.

Thứ ba, thiết lập cơ chế định giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và đa dạng hóa nguồn thu: Thay thế cơ chế cấp bù bình quân bằng cơ chế hợp đồng dịch vụ kinh tế ký kết giữa tổ chức thủy lợi cơ sở và hộ sử dụng nước theo nguyên tắc "tính đúng, tính đủ". Cho phép các tổ chức quản lý được quyền thu phí dịch vụ lấy nước thô cho sinh hoạt và ký hợp đồng đấu thầu mặt nước nuôi trồng thủy sản. Mục tiêu giúp các tổ chức cơ sở tự chủ tối thiểu 70% chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M) thường xuyên vào năm 2025.

Thứ tư, triển khai chương trình quản lý an toàn hồ đập dựa vào cộng đồng: Chi cục Thủy lợi các tỉnh phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức tập huấn kỹ thuật quan trắc mực nước, phát hiện sự cố rò rỉ thân đập và xây dựng bản đồ rủi ro thiên tai cho 100% các hồ chứa nhỏ trước mùa mưa bão hàng năm, ứng dụng kinh nghiệm quản trị rủi ro hồ đập nhỏ từ Nhật Bản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Cơ quan quản lý nhà nước ngành nông nghiệp và tài nguyên nước bao gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy lợi và Phòng Nông nghiệp cấp huyện tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc: Ứng dụng kết quả nghiên cứu làm cơ sở thực tiễn để rà soát tiêu chí phân cấp quản lý hồ đập, xây dựng đề án tái cơ cấu thủy lợi cơ sở và hoạch định kế hoạch phân bổ vốn đầu tư trung hạn.

Thứ hai, Ban quản trị các Hợp tác xã nông nghiệp và Tổ hợp tác dùng nước tại các vùng cao: Sử dụng khung hướng dẫn tổ chức bộ máy, phương pháp xây dựng quy chế quản lý tưới có sự tham gia (PIM) và các mô hình phát triển kinh tế lòng hồ nhằm nâng cao năng lực tài chính và quản trị công trình độc lập.

Thứ ba, Các doanh nghiệp, trang trại và nhà đầu tư tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao: Tham khảo các căn cứ pháp lý, bài học thực tế về quyền khai thác dịch vụ cấp nước tưới cho cây ăn quả đặc sản, khai thác vật liệu bồi lắng và đầu tư nuôi trồng thủy sản mặt nước hồ theo phương thức hợp tác công - tư.

Thứ tư, Giảng viên, nhà nghiên cứu, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước, Quản lý Xây dựng và Kinh tế Nông thôn: Khai thác kho dữ liệu sơ cấp 48 hồ đập tại Hòa Bình, Lào Cai, Tuyên Quang cùng hệ thống phương pháp luận PRA để mở rộng các hướng nghiên cứu về kinh tế tài nguyên nước và quản trị rủi ro thiên tai.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chí xác định hồ đập nhỏ theo quy định pháp luật hiện hành là gì?

Theo Nghị định số 67/2018/NĐ-CP của Chính phủ, hồ đập nhỏ là công trình hồ chứa nước có dung tích toàn bộ dưới 500.000 m3 và thân đập có chiều cao dưới 10m. Tại khu vực miền núi phía Bắc, nhóm hồ này chiếm tới 84,1% đến 86% tổng số lượng hồ chứa, có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm an ninh lương thực và nguồn nước dân sinh tại chỗ.

Vì sao hiệu quả cấp nước tưới của các hồ đập nhỏ miền núi phía Bắc hiện chỉ đạt 50% đến 60%?

Nguyên nhân xuất phát từ việc hơn 90% công trình được thi công thủ công từ giai đoạn 1960 - 1980 với kết cấu đập đất đơn giản, hệ thống kênh dẫn bị thất thoát nước nghiêm trọng khi tỷ lệ kiên cố hóa tại nhiều địa phương chỉ đạt từ 24,7% đến 40%, cùng với 64% tràn xả lũ chưa kiên cố và thiếu kinh phí nạo vét bồi lắng định kỳ.

Tại sao mô hình UBND xã trực tiếp quản lý hồ chứa cần phải chuyển đổi theo Luật Thủy lợi năm 2017?

Mô hình UBND xã kiêm nhiệm quản lý dẫn đến sự chồng chéo giữa chức năng quản lý nhà nước và hoạt động cung ứng dịch vụ kinh tế. Bộ máy xã không có tư cách pháp nhân chuyên trách, không mở được tài khoản riêng để tiếp nhận cấp bù và ký hợp đồng kinh tế, tạo ra tâm lý ỷ lại và khiến công trình rơi vào trạng thái thiếu chủ quản lý thực sự.

Nhà đầu tư tư nhân nhận được những quyền lợi kinh tế nào khi tham gia xã hội hóa hồ đập nhỏ?

Nhà đầu tư được xác lập quyền khai thác mặt nước nuôi trồng thủy sản lâu dài từ 10 đến 25 năm, thu phí cung cấp nước thô cho các cơ sở sản xuất và sinh hoạt, trực tiếp chủ động nguồn nước tưới ổn định cho diện tích cây trồng giá trị cao của doanh nghiệp, đồng thời được hưởng ưu đãi giảm thuế và hỗ trợ 50% lãi suất tín dụng đầu tư.

Kinh nghiệm quốc tế nào về quản lý an toàn hồ đập nhỏ phù hợp nhất với điều kiện miền núi Việt Nam?

Mô hình quản lý hồ đập nhỏ Tameike của Nhật Bản với 210.000 đập dâng là bài học phù hợp nhất. Mô hình này thiết lập liên kết chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư thông qua việc xây dựng bản đồ rủi ro thiên tai, tập huấn kỹ năng nhận biết rò rỉ đập đất và chia sẻ thông tin ứng phó mưa lũ trực tiếp tới từng hộ nông dân.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa toàn diện bức tranh hiện trạng 2.372 hồ chứa miền núi phía Bắc, chỉ ra tỷ lệ hồ nhỏ dưới 500.000 m3 chiếm trên 84% nhưng hiệu quả tưới thực tế chỉ đạt 50% - 60% và 64% tràn xả lũ chưa được kiên cố hóa.
  • Xác định điểm nghẽn then chốt về mặt thể chế khi có tới 34% tổ chức thủy lợi cơ sở do UBND xã và Ban quản lý kiêm nhiệm chưa đủ điều kiện pháp lý, đồng thời 100% công tác cải tạo hồ đập đang phụ thuộc thụ động vào nguồn ngân sách nhà nước.
  • Đóng góp hệ thống cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để xây dựng các mô hình đối tác công - tư (PPP) và quản lý tưới có sự tham gia (PIM) chuyên biệt cho địa bàn miền núi có địa hình dốc và điều kiện kinh tế khó khăn.
  • Đề xuất lộ trình chuyển đổi tổ chức cơ sở sang mô hình Hợp tác xã/Tổ hợp tác trong giai đoạn 2020 - 2022, kết hợp chính sách ưu đãi khai thác đa mục tiêu để đạt mục tiêu tự chủ 70% chi phí vận hành và bảo dưỡng vào năm 2025.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền địa phương sớm ban hành cơ chế hỗ trợ lãi suất tín dụng và giao quyền khai thác mặt nước nhằm thu hút các nguồn lực xã hội, hiện đại hóa hạ tầng nông nghiệp và bảo đảm an toàn bền vững cho cộng đồng dân cư hạ du.