CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm về tài nguyên rừng ở Việt Nam Việt Nam là một quốc gia có ¾ diện tích là khu vực đồi núi với tỉ lệ che phủ của rừng là trên 42% (theo công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2020). Rừng là một nguồn tài nguyên sinh thái quan trọng của nước ta, có giá trị cho sự phát triển kinh tế xã hội và hạnh phúc của cộng đồng trên đất nước. Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc thích nghi với biến đổi khí hậu thông qua những chức năng môi trường như chống xói mòn đảm bảo tuần hoàn nước.
Rừng cũng có vai trò xã hội to lớn, góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân. Vai trò của rừng cũng được thể hiện ở vùng sâu vùng xa, vùng cao nơi 10% dân cư sống bên trong hoặc gần các khu rừng (diện tích xấp xỉ 12 triệu hecta) là người nghèo hoặc người dân tộc thiểu số (UNDP/GEF SGP, 2017). Do đất nước ta trải dài từ bắc xuống nam và điạ hình với nhiều cao độ khác nhau so với mực nước biển nên rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét độc đáo của vùng nhiệt đới và rất đa dạng: có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy, rừng cây lá rộng, rừng cây lá kim, rừng thứ cấp, truông cây bụi và đặc biệt là rừng ngập mặn. Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng, trong đó nước ta là trung tâm thu nhập các luồng thực vật và động vật từ phía bắc xuống, phía tây qua, phía nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong vùng.
Ðồng thời, nước ta có độ cao ngang từ mực nước biển đến trên 3.000 m nên có nhiều loại rừng với nhiều loại thực vật và động vật quý hiếm và độc đáo mà các nước ôn đới khó có thể tìm thấy được (Chu Thái Thành, 2011): - Về thực vật, theo số liệu thống kê gần đây thì có khoảng 12.000 loài thực vật, nhưng chỉ có khoảng 10.500 loài đã được mô tả, trong đó có khoảng 9 10% là loài đặc hữu; 800 loài rêu; 600 loài nấm.300 loài cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc. Về cây lấy gỗ gồm có 41 loài cho gỗ quí (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3). Ngoài ra rừng Việt Nam còn có loại rừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao. Ngoài những cây làm lương thực, thực phẩm và những cây lấy gỗ ra, rừng Việt Nam còn có những cây được sử dụng làm dược liệu gồm khoảng 1500 loài trong đó có khoảng 75% là cây hoang dại.
Những cây có chứa hóa chất quý hiếm như cây Tô hạp (Altingia sp.) có nhựa thơm phân bố ở vùng núi Tây Bắc và Trung bộ; cây Gió bầu (Aquilaria agalocha) sinh ra trầm hương, phân bố từ Nghệ tỉnh đến Ninh Thuận, Bình Thuận; cây Dầu rái (Dipterocarpus) cho gỗ và cho dầu nhựa. - Về động vật, ngoài các loài động vật đặc hữu Việt Nam còn có những loài mang tính chất tổng hợp của khu hệ động vật miền nam Trung Hoa, Ấn Ðộ, Mã Lai, Miến Ðiện, trong đó có khoảng 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài cá nước ngọt và 1.650 loài cá ở rừng ngập mặn và cá biển, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa khoa học. Nhiều loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ của thế giới. Theo Cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tỉ lệ che phủ rừng ở Việt Nam có xu hướng liên tục tăng trong giai đoạn từ 2008 đến nay (tính đến 31/12/2020), trong đó năm 2008, tỉ lệ che phủ rừng đạt 38,7%, năm 2020 đạt 42,0% (hình 1.1), tương ứng với diện tích rừng tăng từ 13,1 triệu ha (năm 2008) lên 14,6 triệu ha (năm 2020).
Về loại rừng, sự gia tăng diện tích rừng chủ yếu là rừng trồng, với 2,8 triệu ha năm 2008 lên 4,3 triệu ha năm 2019.1 Tỉ lệ che phủ rừng ở Việt Nam giai đoạn 2008 - 2020 – nguồn: http://inforgraphics.vn Tỉ lệ che phủ, tổng diện tích rừng, diện tích rừng tự nhiên và diện tích rừng trồng của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tính đến 31/12/2021 được trình bày trong bảng 1. Có thể nhận thấy, địa phương có tỉ lệ che phủ rừng lớn nhất là Bắc Kạn với 73,40%, trong khi đó một số địa phương không có rừng hoặc có tỉ lệ che phủ rừng rất thấp như Nam Định (1,81%), Đồng Tháp (1,69%), Tiền Giang (0,90%).Về diện tích, địa phương có diện tích rừng lớn nhất là Nghệ An (1.741 ha), tỷ lệ che phủ đạt 58,41%, trong đó có 788.991 ha rừng tự nhiên và 219.750 ha rừng trồng.1: Diện tích và độ che phủ rừng các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tính đến 31/12/2021 (Quyết định 2860/QĐ-BNN-TCLN, 2022) Tỷ lệ Diện tích có Rừng tự Rừng trồng Vùng Tỉnh che phủ rừng (ha) nhiên (ha) (ha) (%) TOÀN 14.444 42,02 QUỐC Tổng 1.563 51,44 Tây Bắc Điện Biên 412.482 46,40 11 Tỷ lệ Diện tích có Rừng tự Rừng trồng Vùng Tỉnh che phủ rừng (ha) nhiên (ha) (ha) (%) Hoà Bình 266.643 40,00 Đông Vĩnh Phúc 33.254 25,00 Bắc Cao Bằng 378.892 38,00 Bắc Ninh 556 - 556 0,68 Tổng 83.792 8,46 Phòng Hải Dương 8.704 5,26 Sông Hưng Yên - - - - Hồng TP Hà Nội 19.011 53,50 Bắc Nghệ An 1.750 58,41 Trung Hà Tĩnh 335.118 52,25 Bộ Quảng Bình 588.820 50,43 Duyên TP Đà Nẵng 63.172 47,17 Hải Quảng Nam 680.893 58,61 12 Tỷ lệ Diện tích có Rừng tự Rừng trồng Vùng Tỉnh che phủ rừng (ha) nhiên (ha) (ha) (%) Quảng Ngãi 333.064 45,65 Khánh Hoà 245.154 63,12 Tây Gia Lai 646.201 40,79 Nguyên Lâm Đồng 539.Tàu Nam Bộ TP HCM 33.069 3,03 Bình Phước 159.186 1,77 Vĩnh Long - - - - Tây Trà Vinh 9.571 4,04 Nam Bộ TP Cần Thơ - - - - Hậu Giang 3.480 17,84 13 Mặc dù vậy, thời gian qua do sự bùng nổ dân số cũng như tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng ở Việt Nam đang có những biến động rất sâu sắc. Theo FAO, Việt Nam từng là nước có tỷ lệ đất rừng và trữ lượng gỗ bình quân đầu người thuộc loại thấp trên toàn cầu. Giai đoạn gần đây, mặc dù tỉ lệ che phủ của rừng trên toàn quốc có gia tăng đáng kể, tuy nhiên diện tích rừng tự nhiên cũng như chất lượng rừng có sự suy giảm mạnh.
Những năm 1945, đa số là rừng tự nhiên, còn trong tổng số hơn 14 triệu ha rừng hiện nay, rừng đặc dụng chỉ có 2,15 triệu ha, rừng phòng hộ là 4,6 triệu ha, còn hơn nửa là rừng sản xuất. Trong hơn 10 năm qua, trung bình mỗi năm cả nước trồng được khoảng 230 nghìn ha rừng, nhưng có 215 nghìn ha là rừng sản xuất. Diện tích rừng trồng mới không thể thay thế được giá trị của hàng chục nghìn ha rừng nguyên sinh đã bị mất đi dẫn đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học bị phá vỡ. Một số địa phương còn tính diện tích cây công nghiệp dài ngày vào độ che phủ rừng, trong khi đó diện tích các cây công nghiệp dài ngày này không mang tính bền vững, không có tính đa dạng sinh học cũng như không hiệu quả trong chống mưa lũ.2 Hiện trạng cháy rừng ở Việt Nam1.1 Khái niệm cơ bản về cháy rừng Theo Tổ chức Nông lương thế giới (FAO): ‘cháy rừng là sự xuất hiện và lan truyền của những đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người; gây nên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường’ (FAO, 1999).
Cháy rừng được phân loại thành 3 loại, bao gồm (Bế Minh Châu, 2010): - Cháy dưới tán rừng (cháy trên bề mặt đất rừng): là những đám cháy mà ngọn lửa cháy lan tràn trên mặt đất làm tiêu hủy một phần hoặc toàn bộ lớp thảm mục, cành khô, lá rụng, cỏ khô, thảm tươi, cây bụi, cây tái sinh cháy sém vỏ và một phần nào đó ở gốc cây, rễ cây nổi lên trên mặt đất và ở sát mặt đất. 14 - Cháy tán rừng (cháy trên ngọn): là hình thức cháy được phát triển từ cháy dưới tán lên đến tán rừng. Cháy tán rừng thường xuất hiện ở kiểu rừng có mật độ tán dày của những loại cây có dầu, bao gồm cháy ổn định (cháy toàn bộ tán rừng) và cháy lướt nhanh. - Cháy ngầm: là loại cháy mà ngọn lửa lan tràn dưới mặt đất làm tiêu hủy lớp mùn, than bùn và tiêu hủy những vật liệu hữu cơ khác đã được tích lũy dưới lớp đất mặn trong nhiều năm.
Một ví dụ điển hình nhất của loại cháy ngầm là vụ cháy rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ trong mùa khô 2001 – 2002.2 Quy định về cấp dự báo cháy rừng Cấp dự báo cháy rừng được quy định cụ thể trong Điều 46 Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, trong đó Cấp dự báo cháy rừng gồm 5 cấp, từ cấp I đến cấp V. Ký hiệu biển báo cấp cháy rừng là 1/2 hình tròn có đường kính vành ngoài 2,5 m; vành trong 1,8 m nền trắng, xung quanh viền màu đỏ và có mũi tên (quay được) chỉ cấp dự báo từ cấp I đến cấp V (Hình 1.2) (nguồn: https://kiemlam. Phân cấp và đặc trưng cháy rừng được trình bày trong bảng 1.3 Biển báo cấp dự báo cháy rừng (https://kiemlam.vn) 15 Bảng 1.2 Phân cấp dự báo cháy rừng (theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP) STT Cấp cháy Đặc trưng cháy rừng Cấp thấp: Ít có khả năng cháy rừng 1 I Khả năng cháy rừng thấp, trên biển báo mũi tên chỉ số I. Cấp trung bình: Có khả năng cháy rừng 2 II Khả năng cháy rừng ở mức trung bình, trên biển báo mũi tên chỉ số II.
Cấp cao: Thời tiết khô hanh kéo dài, dễ xảy ra cháy rừng. Chú trọng phòng cháy các loại rừng thông, khộp, bạch đàn, 3 III tre, nứa, tràm. Khả năng cháy lan trên diện rộng, trên biển báo mũi tên chỉ số III. Cấp nguy hiểm: Thời tiết khô hanh, hạn kéo dài có nguy cơ 4 IV xảy ra cháy rừng lớn, tốc độ lan tràn lửa nhanh.
Nguy cơ cháy rừng lớn, trên biển báo mũi tên chỉ số IV.