Nghiên cứu bài học kinh nghiệm chuỗi cung ứng tuần hoàn trong nông nghiệp của các quốc gia và xây dựng mô hình ứng dụng cho nông nghiệp việt nam

Nghiên cứu bài học kinh nghiệm chuỗi cung ứng tuần hoàn trong nông nghiệp quốc tế và xây dựng mô hình ứng dụng cho nông nghiệp Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài báo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học

2025

67
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và nền tảng lý thuyết chuỗi cung ứng tuần hoàn nông nghiệp

Chuỗi cung ứng tuần hoàn nông nghiệp là một mô hình kinh tế bền vững kết hợp các nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Mô hình này nhấn mạnh việc tái sử dụng tài nguyên, giảm thiểu chất thải và tối ưu hóa hiệu suất sản xuất. Khác với chuỗi cung ứng truyền thống, chuỗi cung ứng tuần hoàn nông nghiệp tạo ra một vòng kín từ sản xuất đến tiêu thụ và tái chế. Nó bao gồm các giai đoạn: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, phân phối và tái chế phế phẩm. Mô hình này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tăng cường hiệu quả kinh tế cho các nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp. Các lý thuyết như Trách nhiệm Xã hội Doanh nghiệp (CSR)Vòng đời sản phẩm (PLC) cung cấp cơ sở lý thuyết vững chắc cho mô hình này.

1.1. Định nghĩa kinh tế tuần hoàn và ứng dụng trong nông nghiệp

Kinh tế tuần hoàn là một mô hình kinh tế tập trung vào việc giảm thiểu chất thải và tối đa hóa tái sử dụng tài nguyên. Trong nông nghiệp, kinh tế tuần hoàn được áp dụng thông qua việc sử dụng phân hữu cơ từ phế phẩm nông nghiệp, tái sử dụng nước tưới tiêu, và chuyển đổi chất thải thành sản phẩm có giá trị. Điều này tạo ra một hệ thống bền vững giúp giảm chi phí sản xuất và tối ưu hóa năng suất cây trồng.

1.2. Các thành phần chính của chuỗi cung ứng tuần hoàn

Chuỗi cung ứng tuần hoàn nông nghiệp bao gồm năm thành phần chính: (1) Sản xuất nguyên liệu từ nguồn tái sinh, (2) Chế biến và bao gói sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, (3) Phân phối tối ưu hóa logistik, (4) Tiêu thụ trách nhiệm, và (5) Tái chế và xử lý phế phẩm thành tài nguyên mới. Sự tích hợp các thành phần này tạo nên một vòng kín hoàn chỉnh.

II. Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển

Các quốc gia như Đức, Hà Lan, Ấn ĐộTrung Quốc đã áp dụng thành công mô hình chuỗi cung ứng tuần hoàn nông nghiệp. Đức nổi bật với hệ thống phân loại và tái chế phế phẩm nông nghiệp tiên tiến, tạo ra năng lượng tái tạo từ biogas. Hà Lan áp dụng công nghệ nông nghiệp chính xác và hệ thống nhà kính tiết kiệm năng lượng. Ấn Độ phát triển nông nghiệp hữu cơ và sử dụng phân compost từ chất thải. Trung Quốc tích hợp chuỗi cung ứng tuần hoàn thông qua chương trình "Circular Agriculture" tạo liên kết giữa nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản. Những kinh nghiệm này chứng minh rằng mô hình này có thể áp dụng hiệu quả ở các quốc gia có điều kiện kinh tế khác nhau.

2.1. Mô hình nông nghiệp tuần hoàn của Đức

Đức là quốc gia tiên phong trong xây dựng chuỗi cung ứng tuần hoàn nông nghiệp. Nước này áp dụng công nghệ xử lý phế phẩm nông nghiệp thành biogas để phát điện. Hệ thống phân loại rác hữu cơ được thực hiện nghiêm ngặt ở tất cả các trang trại. Những nông dân Đức cũng áp dụng canh tác bền vững, sử dụng phân hữu cơ và giảm tối đa sử dụng hóa chất. Kết quả là Đức đạt được tỷ lệ tái chế 80% trong nông nghiệp, dẫn đầu ở châu Âu.

2.2. Kinh nghiệm nông nghiệp từ Hà Lan và Trung Quốc

Hà Lan phát triển chuỗi cung ứng tuần hoàn thông qua nông nghiệp công nghệ cao và nông trại thông minh. Quốc gia này sử dụng hệ thống nhà kính tiết kiệm năng lượng và tái sử dụng nước 90%. Trung Quốc xây dựng "Circular Agriculture" liên kết nông nghiệp, chăn nuôi, và thủy sản, tạo vòng kín chất dinh dưỡng. Hai quốc gia này chứng minh rằng chuỗi cung ứng tuần hoàn có thể tăng năng suất đồng thời bảo vệ môi trường.

III. Đề xuất mô hình chuỗi cung ứng tuần hoàn cho nông nghiệp Việt Nam

Dựa trên bài học kinh nghiệm từ các quốc gia, mô hình chuỗi cung ứng tuần hoàn cho nông nghiệp Việt Nam cần được thiết kế phù hợp với điều kiện cụ thể: (1) Giai đoạn sản xuất: Khuyến khích nông dân sử dụng phân compost từ phế phẩm và chất thải động vật. (2) Giai đoạn chế biến: Áp dụng công nghệ xử lý chất thải hợp lý. (3) Giai đoạn phân phối: Sử dụng vật liệu bao gói tái chế và giảm khí thải vận chuyển. (4) Giai đoạn tái chế: Thiết lập các điểm tập kết và tái chế phế phẩm. Mô hình này cần được hỗ trợ bởi chính sách, đầu tư công nghệ và training cho nông dân. Việc áp dụng từng bước, bắt đầu từ các tỉnh có điều kiện sẵn sàng, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững.

3.1. Những yếu tố chính trong mô hình đề xuất

Mô hình chuỗi cung ứng tuần hoàn cho Việt Nam cần tập trung vào ba yếu tố chính: (1) Quản lý chất thải nông nghiệp: Tái sử dụng rơm, rạ và chất thải động vật thành phân hữu cơ. (2) Nông nghiệp hữu cơ: Khuyến khích canh tác không sử dụng hóa chất độc hại. (3) Công nghệ tiết kiệm: Áp dụng tưới nước tinh dục và nông nghiệp chính xác. Các yếu tố này sẽ giúp nông nghiệp Việt Nam trở thành hiệu quả, bền vững và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

3.2. Tích hợp công nghệ và cộng đồng

Để chuỗi cung ứng tuần hoàn thành công ở Việt Nam, cần phối hợp công nghệ hiện đại với sự tham gia của cộng đồng nông dân. Các startup nông nghiệp, doanh nghiệp và chính phủ cần hợp tác để xây dựng hạ tầng tái chế. Đào tạo kỹ năng cho nông dân về quản lý chất thải và nông nghiệp bền vững là yếu tố then chốt. Sự kết nối giữa sản xuất nông nghiệp và xử lý chất thải sẽ tạo ra một hệ thống hoàn chỉnh.

IV. Khó khăn và giải pháp để triển khai mô hình tại Việt Nam

Chuỗi cung ứng tuần hoàn nông nghiệp tại Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức: (1) Nhận thức giới hạn: Nhiều nông dân chưa hiểu rõ lợi ích của mô hình tuần hoàn. (2) Thiếu vốn đầu tư: Công nghệ và hạ tầng tái chế đòi hỏi chi phí ban đầu lớn. (3) Khó khăn về kỹ thuật: Nông dân cần training chuyên sâu. (4) Chính sách chưa hoàn thiện: Cần có khung pháp lý rõ ràng để hỗ trợ. Để giải quyết, chính phủ Việt Nam nên: xây dựng chính sách ưu đãi tài chính, cấp kinh phí training, khuyến khích doanh nghiệp tham gia, và thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng. Kết hợp với hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, Việt Nam có thể từng bước hiện thực hóa mô hình chuỗi cung ứng tuần hoàn bền vững.

4.1. Các rào cản chính trong triển khai

Rào cản về kinh tế: Nông dân nhỏ lẻ ở Việt Nam không có khả năng tài chính để đầu tư vào công nghệ tái chế. Rào cản về nhận thức: Nhận thức về nông nghiệp tuần hoàn còn hạn chế ở vùng nông thôn. Rào cản kỹ thuật: Thiếu chuyên gia và cơ sở hạ tầng để xử lý chất thải nông nghiệp. Rào cản chính sách: Các quy định về tiêu chuẩn chất lượng và tái chế vẫn chưa rõ ràng. Những rào cản này cần được khắc phục qua các biện pháp có chiều kích hợp tác đa phương.

4.2. Chiến lược và hành động khuyến nghị

Chiến lược ngắn hạn: Khuyến khích các tỉnh thí điểm áp dụng chuỗi cung ứng tuần hoàn, cấp vốn hỗ trợ, training nông dân. Chiến lược dài hạn: Xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh, phát triển hạ tầng tái chế, tạo liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và nhà nước. Hành động: Thành lập trung tâm nghiên cứu, công bố tiêu chuẩn quốc gia, tìm nguồn tài chính từ ngân hàng phát triển quốc tế. Sự kết hợp giữa chính sách, đầu tư và giáo dục sẽ thúc đẩy chuyển đổi bền vững cho nông nghiệp Việt Nam.

09/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu: tổng quan về các tài liệu đã đọc, đối tượng, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng tuần hoàn trong nông nghiệp: Các khái niệm cơ bản và các khái niệm, lý thuyết liên quan tới chuỗi cung ứng tuần hoàn trong nông nghiệp Chương 3. Bài học kinh nghiệm về chuỗi cung ứng tuần hoàn của các quốc gia trên thế giới: nghiên cứu thực trạng, kết quả, bài học về chuỗi cung ứng tuần hoàn trong nông nghiệp của các quốc gia trên thế giới Chương 4.

Xây dựng mô hình chuỗi cung ứng tuần hoàn trong nông nghiệp cho Việt Nam: nghiên cứu, so sánh với các quốc gia khác trên thế giới để rút ra bài học và xây dựng mô hình phù hợp, hiệu quả cho chuỗi cung ứng tuần hoàn trong nông nghiệp của Việt Nam 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG TUẦN HOÀN TRONG NÔNG NGHIỆP 2. Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm kinh tế tuần hoàn Khái niệm kinh tế tuần hoàn bắt đầu xuất hiện từ năm 1990, trong cuốn ‘Economics of natural resources and the environment’, Pearce and Turner cho rằng khái niệm kinh tế tuần hoàn được dùng để chỉ mô hình kinh tế mới dựa trên nguyên lý cơ bản “mọi thứ đều là đầu vào đối với thứ khác”. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên có hạn, khái niệm này đã thu hút các nhà nghiên cứu và có nhiều ý kiến đồng tình rằng mô hình sản xuất tuyến tính đang chiếm ưu thế trong nền kinh tế hiện nay là ‘chiết khấu-sản phẩm-sử dụng-bãi thải’ là không bền vững (Cristina Díaz-García, 2020).

Chính vì vậy mà khái niệm kinh tế tuần hoàn ra đời nhằm mục đích chuyển đổi sâu sắc cách cách chúng ta sử dụng tài nguyên, bằng việc thay thế các hệ thống sản xuất hiện có. Trong đó, nguyên liệu thô được khai thác, chế biến thành sản phẩm hoàn thiện và được đem đi sử dụng nhưng chất thải của chúng được tái sử dụng và được giữ trong một vòng lặp của sản xuất và sử dụng, cho phép tạo ra nhiều giá trị hơn trong thời gian dài hơn (Urbinati và cộng sự, 2017). Theo Kirchherretal và cộng sự (2017), kinh tế tuần hoàn được định nghĩa “là một hệ thống kinh tế dựa trên các mô hình kinh doanh thay thế khái niệm ‘kết thúc vòng đời’ thông qua việc giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi nguyên vật liệu trong các quy trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng”. Còn Ellen MacArthur Foudation (2013) định nghĩa kinh tế tuần hoàn là “một cách tiếp cận kinh tế khuyến khích tổ chức các hoạt động kinh tế với các quy trình phản hồi mà nó mô phỏng hệ sinh thái tự nhiên thông qua quá trình chuyển đổi tài nguyên thiên nhiên thành các sản phẩm chế tạo từ sản phẩm phụ của quá trình sản xuất và được dùng như nguồn tài nguyên cho ngành công nghiệp khác”.

Tóm lại, có thể hiểu kinh tế tuần hoàn là nền kinh tế giảm thiểu tối đa lượng thải bỏ trong quá trình sản xuất, dùng sản phẩm phụ ở đầu ra của quá trình này làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình khác thông qua tái chế, tái sử dụng, tái tạo chúng. Từ khái niệm kinh tế tuần hoàn được đưa ra bởi Pearce và Turner áp dụng các nguyên tắc của định luật nhiệt động lực học thứ nhất và thứ hai, có thể hiểu kinh tế tuần hoàn dựa trên mối quan hệ chủ đạo giữa kinh tế và môi trường và dựa trên nguyên tắc “mọi thứ đều là đầu vào cho mọi thứ khác”. Đồng quan điểm với hai tác giả trên, Ghisellini và cộng sự (2016) cho rằng tiền đề của kinh tế tuần hoàn là việc giảm thiểu chất thải và ô nhiễm, kéo dài tuổi thọ có ích của sản phẩm và nguyên vật liệu, tái tạo lại hệ thống tự nhiên. Vậy bản chất của nền kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế cải cách 8 từ nền kinh tế tuyến tính thành một hệ thống giảm thiểu việc thải bỏ, tránh tối đa những tổn thất vật chất (Pauline Deutz, 2020).

Trong kinh tế tuần hoàn, các sản phẩm và vật liệu được thiết kế để sử dụng, sửa chữa, tái sản xuất và cuối cùng là tái chế, tạo ra một hệ thống vòng kín giúp giảm nhu cầu về tài nguyên nguyên sinh và giảm thiểu việc tạo ra chất thải (Kara và cộng sự, 2022; Mishra và cộng sự, 2023). So sánh với nền kinh tế tuyến tính chỉ quan tâm đến việc khai thác tài nguyên, sản xuất, tiêu dùng mà không quan tâm nhiều đến việc thải ra môi trường, kinh tế tuyến tính tối đa hóa việc khai thác tài nguyên thiên nhiên dẫn đến lượng chất thải khổng lồ. Thì trong khi đó, kinh tế tuần hoàn tập trung vào quản lý và tái tạo tài nguyên theo vòng khép kín và do đó tránh tạo ra chất thải. Việc sử dụng tài nguyên có nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như thiết kế lại, giảm thiểu, sửa chữa, tái sử dụng, tái chế và chia sẻ hoặc cho thuê thay vì sở hữu vật chất (Nguyễn Thế Chinh, 2020).

Kinh tế tuần hoàn bao gồm 3 nguyên tắc: tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu. Nguyên tắc giảm thiểu bao gồm việc giảm thiểu mức tiêu thụ tài nguyên không tái tạo thông qua thay thế đầu vào, cải tiến quy trình, tăng cường giám sát và quản lý các giai đoạn sản xuất và tiêu thụ (Geng và Doberstein, 2008; Goyal và cộng sự, 2018). Nguyên tắc tái sử dụng đưa các sản phẩm hết vòng đời trở lại chuỗi cung ứng theo nhiều cách khác nhau để kéo dài vòng đời của chúng và tránh lãng phí (Goyal và cộng sự, 2018; (Florian Lüdeke-Freund, 2018). Nguyên tắc tái chế được biết đến rộng rãi hơn tái sử dụng và giảm thiểu, tuy nhiên nó có thể kém hiệu quả và ít sinh lời hơn (Ghisellini và cộng sự, 2016).

Nguyên tắc này bao gồm tái chế vật liệu thải thành các sản phẩm, vật liệu hoặc chất cho dù là cho mục đích ban đầu hay bất cứ mục đích nào khác (EU, 2008). Ảnh hưởng của kinh tế tuần hoàn đối với các doanh nghiệp có thể được tìm thấy trong nhiều lĩnh vực kinh doanh. Lập kế hoạch chiến lược, quản lý chi phí, quản lý chuỗi cung ứng tuần hoàn, quản lý chất lượng, quản lý quy trình, logistics và logistics ngược là một số lĩnh vực mà kinh tế tuần hoàn có thể đóng vài trò là động lực hướng tới các hoạt động bền vững hơn (Murillo và cộng sự, 2021). Ngoài ra, việc áp dụng kinh tế tuần hoàn ngày càng trở nên quan trọng đối với các quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt là khi đối mặt với thách thức của việc gia tăng biến đổi khí hậu.

Phát triển kinh tế tuần hoàn đóng vai trò quan trọng cho trong việc đạt được tăng trưởng kinh tế đồng thời giải quyết vấn đề nhức nhối của môi trường. Người ta ước tính rằng việc áp dụng kinh tế tuần hoàn rộng rãi có thể giảm đáng kể lượng khí thải CO2, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và thúc đẩy sử dụng những nguồn năng lượng tái tạo giúp các quốc gia đặt được mục tiêu về giảm phát thải (Jawaher và cộng sự, 2023). Bên cạnh đó, việc chuyển 9 đổi sang kinh tế tuần hoàn cho phép các quốc gia sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên hạn chế của mình (Sue Lin Ngan và cộng sự, 2019). Việc chấp nhận thay đổi này sẽ thúc đẩy tính bền vững bằng cách tăng cường hiệu suất kinh tế và môi trường mà không làm tăng chi phí quản lý chất thải hoặc tài nguyên mới (Busu, 2019).

Thực hiện thành công kinh tế tuần hoàn sẽ mang lại lợi ích cho các quốc gia đang phát triển vì nó sẽ giải quyết các vấn đề về chất thải tài nguyên, tiết kiệm tiền bạc và môi trường cho các thế hệ tương lai. Khái niệm chuỗi cung ứng tuần hoàn Nếu ở giai đoạn đầu vào những năm 2017, khái niệm về chuỗi cung ứng tuần hoàn vẫn còn ở giai đoạn sơ khai và bị phân mảnh (Donato Masi và cộng sự, 2017) thì cho đến thời điểm hiện tại khái niệm này đã nhận được nhiều sự quan tâm. Saman Amir và cộng sự (2022) định nghĩa chuỗi cung ứng tuần hoàn là chuỗi cung ứng khép kín vòng lặp theo ý định và thiết kế với tầm nhìn không chất thải, trong đó các luồng hàng đi và trả ngược được tích hợp và tối ưu hoá cho nhiều vòng đời sản phẩm để cho phép khôi phục và tái tạo các chu kỳ kỹ thuật. Chuỗi cung ứng tuần hoàn hướng tới mục tiêu giảm thiểu những bất ổn của luồng hàng trả lại về mặt thời gian, chất lượng và số lượng bằng cách thiết kế các sản phẩm và hệ thống theo hướng tuần hoàn cũng như thiết lập sự hợp tác hiệu quả giữa các bên liên quan (Yasanur Kayikci, 2022).

Theo (Vela, 2023), chuỗi cung ứng tuần hoàn là một hệ thống vòng kín, trong đó sản phẩm, vật liệu và tài nguyên liên tục được tái sử dụng, tái chế và tái tạo. Chuỗi cung ứng tuần hoàn là chuỗi cung ứng nhằm mục đích duy trì sử dụng tài nguyên và vật liệu lâu nhất có thể, giảm thiểu chất thải và giảm nhu cầu sử dụng tài nguyên thô (Rafael Vela, 2023). Chuỗi cung ứng tuần hoàn nổi trội hơn hẳn chuỗi cung ứng truyền thống mà ở đó vật liệu được chiết xuất, xử lý, sản xuất, sử dụng và sau đó thải bỏ như chất thải khi kết thúc vòng đời. Theo tác giả Quadros trong nghiên cứu “Understanding Circular Supply Chain: Key Concepts & Benefits” , chuỗi cung ứng tuần hoàn tích hợp nhiều quy trình và các bên liên quan khác nhau để thiết kế loại bỏ chất thải và giữ cho tài nguyên được sử dụng lâu nhất có thể.

Mô hình này bao gồm tái chế và xem xét lại cách sử dụng tài nguyên trong toàn bộ chuỗi cung ứng từ nguồn nguyên liệu thô đến thiết kế sản phẩm, sản xuất,. Chuỗi cung ứng tuần hoàn giúp cải thiện việc sử dụng vật liệu và tối ưu hoá chu trình của các nguồn tài nguyên có giá trị. Các công ty có thể giảm được áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy việc sử dụng vật liệu bền vững hơn thông qua cách này 10 (Foroozanfar và cộng sự, 2022). Đây cũng là cơ hội để các công ty phát triển hoạt động quản lý môi trường của họ trong bối cảnh áp dụng các tiêu chuẩn môi trường của châu Âu (Lorek, 2012).

Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng tuần hoàn còn mang lại lợi ích về mặt kinh tế bởi thông thường vật liệu tái chế hoặc tái sử dụng có giá thành thấp hơn vật liệu nguyên sinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ