chương 1) An Phú là huyện đầu nguồn có đường biên giới quốc gia dài nhất so với các huyện thị khác, cách trở giao thông và thường chịu nhiều thiệt hại do thiên tai lũ lụt gây ra. Huyện An Phú có diện tích tự nhiên 208,97 km2, dân số 178.613 người (năm 2003), gồm 12 xã và 1 thị trấn. - Phía Tây và Bắc: giáp Campuchia - Phía Nam: giáp thị xã Châu Đốc và huyện Phú Tân - Phía Đông: giáp huyện Tân Châu Gồm 37 tuyến địa giới cấp xã, dài 126,871 km, trong đó 7 tuyến trùng với biên giới quốc gia, 12 tuyến trùng với tuyến huyện, được xác định bằng 39 mốc địa giới hành chính. An Phú có 5 xã Đa Phước, Quốc Thái, Khánh Bình, Nhơn Hội, Vĩnh Trường được Ủy Ban dân tộc miền núi công nhận là khu vực dân tộc đồng bằng và 7 xã giáp biên giới là Vĩnh Hội Đông, Phú Hội, Nhơn Hội, Khánh An, Khánh Bình, Quốc Thái và Phú Hữu.
Huyện lỵ cách Long Xuyên 71 km theo đường quốc lộ 91 và tỉnh lộ 956. Đặc điểm đất đai * Địa hình An Giang có cao độ thấp dần từ biên giới Campuchia đến lộ Cái Sắn và từ bờ sông Hậu đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang, địa hình đồi núi chỉ tập trung chủ yếu hai huyện: Tri Tôn và Tịnh Biên. Nhìn chung, địa hình tỉnh An Giang tương đối thấp và khá bằng phẳng. * Phân loại đất An Phu là môt huyện đâu nguôn cua tinh An Giang, vơi tông diện tich đât nông nghiệp là 53.745 ha, trong đo diện tich trông lua là 22.
Điêu này, đa tao nên thê manh cho An Phu vê san xuât lua. Do đăc điêm đât đai đa dang, môi vung co môt nhom đât khac nhau vơi nhưng thay đôi vê tinh chât đât, đia hinh, tâp quan canh tac. Tư kêt qua nghiên cưu cho thây An Giang phân thành 3 nhom đât chinh: nhom đât phen, nhom đât phu sa và nhom đât đôi nui. Trong đo, đăc điêm đât đai cua An Phu thuôc nhom đât phu sa.
Đăc tinh chung cua đât phu sa là chưa nhiêu hưu cơ, pH thâp, it bi bào mon và xâm thưc mà chu yêu luôn đươc bôi đâp hàng năm vơi tưng mưc đô khac nhau trong nhưng điêu kiện trâm tich khac nhau (Ủy Ban Nhân Dân tinh An Giang, 2003). Nhóm đất phù sa xám nâu được bồi, ít hữu cơ chiếm một diện tích khá lớn ở 4 huyện cù lao: Chợ Mới, Phú Tân, An Phú, Tân Châu và dải cánh đồng ven sông Hậu thuộc huyện Châu Phú, Châu Thành. Đây là phần đất bị ngập nước hàng năm vào mùa lũ, địa hình khá bằng phẳng và trải rộng, vật liệu trầm tích chủ yếu là sét, bột, lẫn chất hữu cơ, bề dày lớp phù sa từ 1 – 2 m. Đất không có khả năng gây hại cho cây trồng, đất dẻo chặt, thích hợp với nhiều loại cây.
Đất có phản ứng hơi chua, hàm lượng lân trao đổi khá thấp, tổng lượng sulfat hòa tan cũng ở mức độ thấp 0,1 – 0,2% nhưng hơi tăng ở các tầng dưới. Hàm lượng hữu cơ tầng mặt 3,8% và càng xuống tầng dưới càng thấp, tổng lượng đạm từ trung bình đến thấp (0,1 – 0,2%), đất nghèo lân và kali. Về thành phần cơ giới, sét chiếm 45%, bột chiếm 49%, cát chiếm 1,4%. Do đó, đất có sa cấu pha bột nhưng các tầng dưới hàm lượng sét rất cao.
Hiện nay nhóm đất này chiếm diện tích khoảng 24.455 ha đất dùng để trồng lúa 2 vụ là chủ yếu. Một số nơi như ở An Phú, Châu Phú, đất có thể trồng một vụ lúa, một vụ màu như mè, đậu, dưa,…thực vật hoang dại tương đối ít (Ủy Ban Nhân Dân tỉnh An Giang, 2003). Đặc điểm khí hậu thủy văn * Khí hậu Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 11. Lượng mưa của các tháng mùa khô cộng lại không vượt quá 150 mm, chiếm khoảng 15% tổng lượng mưa của cả năm.
Trong mùa mưa lượng mưa chênh lệch nhau không nhiều biến động trong khoảng 130 – 280 mm, số ngày mưa trung bình 121 – 125 ngày/năm (Dương Văn Nhã, 2004). Về mùa lũ, lưu lượng tăng nhanh từ tháng 7 và đạt giá trị lớn nhất vào tháng 10, sau đó giảm vào tháng 11. Lượng nước lũ tràn vào vùng Tứ Giác Long Xuyên theo sông Hậu chiếm khoảng 20 – 25% và lượng lũ tràn từ Campuchia qua các cầu Châu Đốc đến Nhà Bàng chiếm khoảng 25 – 80% tổng lượng nước lũ vào vùng này. Khả năng xuất hiện lũ lớn tại Tân Châu thường có mực nước lũ bằng hoặc cao hơn 4 m, điều này có nghĩa là đại bộ phận đất đai tỉnh An Giang thường xuyên bị ngập vào mùa lũ (Dương Văn Nhã, 2004).
* Thủy văn Mực nước lũ năm 2004 tăng cao từ tháng 7 đến tháng 10 khoảng 2,1 – 6,1 m, bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 11 mực nước hạ xuống đến mức thấp nhất 2,5 m (Phòng xây dựng và phát triển nông thôn huyện An Phú, 2004). Đặc điểm kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây, tỉnh An Giang mặc dù có những ảnh hưởng của thiên tai, giá cả nông sản, kinh tế của tỉnh vẫn duy trì tăng trưởng trên 6%/năm. Tỷ trọng nông nghiệp chiếm trong tổng nền kinh tế năm 1997 là 43,6% và 39,5% vào năm 2001. Diện tích gieo trồng lúa năm 2000 và 2001 là 456,2 ha với sản lượng tương ứng là 2,4 triệu tấn và 2,2 triệu tấn (Dương Ngọc Thành và ctv, 2004).
Hiện trạng phân bố và sử dụng đất nông nghiệp An Giang với tổng diện tích đất tự nhiên 340.623 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp năm 2002 là 260.575 ha vào năm 2003, tức tăng 1. Trong khi đó, huyện An Phú với tổng diện tích đất tự nhiên 208,02 km2, diện tích trồng lúa năm 2002 chiếm 22.759 ha vào năm 2003, tức tăng 253 ha. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của huyện có sự thay đổi theo hướng gia tăng tỷ lệ sử dụng đất. Diện tích trồng lúa 2 vụ/năm từ năm 2002 đến 2003 tăng như vụ Đông Xuân từ 11.993 ha, vụ Hè Thu từ 10.742 ha, riêng vụ Thu Đông giảm từ 136 ha xuống còn 24 ha.
(Bảng 1) Việc gia tăng tỷ lệ sử dụng đất một phần do điều kiện đất, nước ngày càng thuận lợi, gia tăng dân số, thị trường nông sản ngày càng cao và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đưa vào đồng ruộng. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là cây lúa. Với điều kiện hiện nay, người dân đã chuyển đổi diện tích sử dụng đất với nhiều loại cây trồng khác như rau màu, ngô,…do thị trường tiêu thụ ổn định, lợi nhuận đem lại cao. Ngoài việc trồng lúa, hiện nay huyện An Phú có diện tích trồng ngô rất lớn so với các loại rau màu khác.458 ha vào năm 2003, tức tăng 534 ha.
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng sản phẩm nông nghiệp hàng hóa và hàng xuất khẩu kết hợp với công nghiệp hóa tạo thế mạnh về địa bàn sản xuất, thị trường tiêu thụ và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Đây là mục tiêu quan trọng của nền nông nghiệp trong tương lai. (Cục thống kê tỉnh An Giang, 2004) Bảng 1: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp cho các loại cây trồng ở huyện An Phú Loại cây trồng Diện tích trồng Diện tích trồng năm 2002 (ha) năm 2003 (ha) - Cây lương thực có hạt 25.759 + Vụ đông xuân 11.993 + Vụ hè thu 10.742 + Vụ thu đông 136 24 - Ngô 2.301 859 - Đậu nành 605 368 - Đậu phộng 23 14 - Mè - 67 - Mía - 3 - Nuôi thủy sản 63,1 44,1 Nguồn: Cục thống kê tỉnh An Giang, 2004 2. Hiện trạng về dân số và lao động Theo số liệu thống kê năm 2003 đươc thê hiện ở Bang 2, huyện An Phu co số dân là 178.613 ngươi, trong đo nam là 88.
Mât đô dân số binh quân 859 ngươi/km 2, trong đo số dân sống ở nông thôn là 167.445 ngươi ở thành thi. Điêu này cho thây huyện An Phu co tỷ lệ dân số sống trong khu vưc nông nghiệp chiêm đa số (Cục thống kê tỉnh An Giang, 2004). Dân số trong huyện ngày càng cao trong khi điêu kiện kinh tê phat triên châm, sưc ep dân số cung là trở ngai đê phat triên kinh tê cua huyện. Dân số chu yêu tâp trung ở linh vưc nông nghiệp, do đo muốn phân bố lai lao đông cho đông đêu vào cac linh vưc khac là môt vân đê kho khăn.
Tỷ lệ can bô khoa hoc kỹ thuât cao tâp trung ở thành thi là số đông, đối vơi nông dân san xuât vân con năng theo kinh nghiệm,…vi vây mà không tranh khoi lang phi tiên vốn và tài nguyên (Cục thống kê tinh An Giang, 2004). Bang 2: Tỷ lệ và dân số huyện An Phu ở năm 2001, 2002 và 2003 Tỷ lệ và dân số huyện An Phu 2001 2002 2003 Dân số toàn huyện (người) 172.347 Chia theo khu vưc - Thành thi 11.168 Nguồn: Cục thống kê tỉnh An Giang, 2004 2. Diễn biến sản xuất nông nghiệp 2. Vai trò của ngành nông nghiệp An Phú chủ yếu sản xuất nông nghiệp chiếm 72,3%, lâm nghiệp (0,9%) và 26,8% là sản xuất khác.
Chính vì vậy, nền kinh tế nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng so với các ngành kim ngạch khác. Cho nên An Phú cần phải tích cực chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất trên cơ sở khai thác triệt để, đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trường và đang trở thành một yêu cầu bức thiết (Phòng xây dựng và phát triển nông thôn huyện An Phú, 2004). Diễn biến sản xuất nông nghiệp Vào những năm gần đây, vị trí bắp lai được coi là quan trọng đứng sau lúa tại An Giang, trồng tập trung tại Châu Phú, Tân Châu, An Phú và Chợ Mới với diện tích gieo trồng năm 2000 là 4.000 ha, năng suất bình quân tại An Giang khá cao đạt 9 tấn/ha vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu và Xuân Hè đạt 7,5 tấn/ha, bình quân nông dân đạt 7 - 9 triệu đồng/ha (Dương Ngọc Thành và ctv, 2004). Toàn tỉnh An Giang có tổng diện tích sản xuất lúa vụ 3 là 35.497 ha so năm 2001), với tổng số 42.502 hộ tham gia, năng suất bình quân đạt 5,2 tấn/ha, sản lượng lương thực đạt 183.824 tấn so với năm 2001), đã góp phần giải quyết việc làm thường xuyên cho 51.286 lao động và hàng trăm ngày lao động trong mùa nước nổi.
Nhìn chung, năm 2002 là năm có diện tích sản xuất lúa vụ 3 cao nhất từ trước đến nay, nhiều huyện có diện tích vụ 3 tăng lên đáng kể so với năm 2001 như huyện Phú Tân, từ 211 ha tăng lên 9.974 ha), huyện Chợ Mới từ 13.