phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn nhƣ sau: Chƣơng 1: Mô hình Bose- Hubbard. Chƣơng 2: Liên kết mạnh trong lý thuyết nhiễu loạn “ngây thơ”. Chƣơng 3: Gần đúng tách kết cặp áp dụng cho hệ nguyên tử siêu lạnh. 3 CHƢƠNG 1: MÔ HÌNH BOSE- HUBBARD 1.
MÔ HÌNH HUBBARD CHO HỆ ĐIỆN TỬ TƢƠNG QUAN MẠNH. Trong một số vật liệu tƣơng tác Coulomb giữa các hạt tải nhỏ hơn nhiều so với động năng của chúng và trong nhiều trƣờng hợp đƣợc coi là hệ các hạt tải tự do với khối lƣợng đƣợc tái chuẩn hoá (khối lƣợng hiệu dụng). Trong các vật liệu họ kim loại chuyển tiếp và kim loại đất hiếm thì thế năng của mỗi điện tử có độ lớn cùng bậc với động năng của nó. Hệ điện tử nhƣ vậy đƣợc gọi là hệ điện tử tƣơng quan mạnh.
Mô hình đơn giản nhất mô tả hệ điện tử tƣơng quan mạnh là mô hình Hubbard đƣợc đề xuất năm 1963 với Hamiltonian có dạng sau [11,12,14]: ∑ ∑ ∑ (1.1) 〈 〉 Trong đó là các toán tử sinh (huỷ) điện tử trên nút i (nút j). : là toán tử số hạt trên nút i. Tƣơng tác Coulomb trên một nút ký hiệu là U. Tích phân nhảy nút ký hiệu là t mô tả tính chất linh động của điện tử.
Vì độ lớn của tích phân nhảy nút phụ thuộc sự phủ nhau của hai hàm sóng Wannier trên hai nút i, j nên tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai nút. Vì vậy ngƣời ta thƣờng giới hạn trong gần đúng hai nút lân cận gần nhất <ịj>. Nhƣ vậy số hạng đầu tiên mô tả động năng của hệ còn số hạng thứ hai liên quan tới thế năng của hạt. Nếu đóng góp của hai số hạng này là cùng bậc thì ta có Hamiltonian cho hệ điện tử tƣơng quan mạnh.
Cần lƣu ý là giá trị cụ thể của t và U là tính chất nội tại của vật liệu và khó thay đổi bằng các điều kiện bên ngoài, thí dụ thƣờng bằng thay đổi áp xuất bên ngoài. Đây là điều khác biệt lớn khi so sánh với mô hình Bose- Hubbard trong siêu mạng sẽ trình bày ở dƣới đây khi t và U dễ dàng thay đổi bằng cƣờng độ chùm laser. Ngoài tham số nhảy nút và tƣơng tác trên một nút, Hamiltonian Hubbard còn đặc trƣng bởi số lấp đầy và cấu trúc mạng tinh thể. Số lấp đầy n là trung bình của số hạt trên mỗi nút.
4 ∑ 〈 〉 Vì nguyên lý Pauli nên trên mỗi nút không thể có hơn hai electron. Trƣờng hợp đặc biệt quan trọng là khi n=1, đƣợc gọi là lấp đầy một nửa. Mô hình Hubbard tuy có dạng đơn giản nhƣng đƣợc áp dụng khá rộng rãi. Có thể kể ra một số trƣờng hợp cụ thể áp dụng mô hình Hubbard nhƣ sau: • Nghiên cứu tính chất điện từ của tinh thể với vùng năng lƣợng hẹp (kim loại chuyển tiếp).
• Nghiên cứu tính chất từ do hạt tải linh động (band magnetism) (Fe, Co, Ni,. • Siêu dẫn nhiệt độ cao và các vật liệu siêu dẫn mới. • Nghiên cứu các phƣơng pháp tiếp cận và ý tƣởng mới trong vật lí thống kê. Đặc biệt, mô hình Hubbard đƣợc sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu chuyển pha kim loại- điện môi Mott mà ta sẽ xem xét chi tiết dƣới đây.
Chuyển pha kim loại – điện môi Mott. Chuyển pha là sự thay đổi trạng thái của một hệ khi thay đổi nhiệt độ (chuyển pha nhiệt động học) hoặc khi thay đổi một tham số nội tại của hệ ở nhiệt độ T=0K(chuyển pha lƣợng tử)[15]. Thí dụ chuyển pha nhiệt động học nhƣ chuyển pha khí-lỏng-rắn khi nhiệt độ giảm dần, chuyển pha lƣợng tử nhƣ: chuyển pha kim loại- điện môi Mott. Để đặc trƣng cho tính dẫn điện của vật liệu ngƣời ta xét tensor dẫn điện tĩnh ở gần đúng sóng dài ở giới hạn nhiệt độ tiến tới không.
Nếu tensor dẫn điện khác không thì đó là kim loại, còn nếu tensor dẫn điện bằng không thì đó là điện môi. Ngƣời ta phân biệt các loại điện môi sau: - Điện môi vùng là do cấu trúc vùng năng lƣợng mà xuất hiện khe năng lƣợng giữa vùng lấp đầy cao nhất của các hạt tải với vùng trống thấp nhất. Nguyên nhân của sự tồn tại khe là do giải bài toán chuyển động của electron 5 trong trƣờng thế của các ion, tức là điện môi vùng là do tƣơng tác của electron với các ion. - Điện môi Anderson là khi một hệ ban đầu là dẫn điện, nhƣng khi ta tăng dần độ mất trật tự của hệ (thí dụ các khuyết tật) đến một mức độ nào đó thì hệ trở thành không dẫn điện.
- Điện môi Peierls là do sự biến dạng của mạng tinh thể. - Điện môi Mott là do sự tƣơng quan mạnh của electron, tức là do các electron tƣơng tác với nhau qua thế Coulomb kết hợp với nguyên lý Pauli. Ta có thể hiểu tại sao có chuyển pha kim loại- điện môi Mott bằng cách phân tích bức tranh năng lƣợng trong mô hình Hubbard gồm hai nút i, j nhƣ sau (xem hình 1. Trƣớc hết ta thấy rằng nếu lấp đầy bằng không thì không dẫn điện vì không có hạt tải, còn nếu lấp đầy bằng 2 thì cũng vậy vì electron không thể nhảy nút do nguyên lý cấm Pauli.
Do số hạng động năng nên electron có thể nhảy từ nút i sang nút j nếu tại i có ít nhất 1 electron, còn ở j có ít hơn hai electron. Nếu ở j ban đầu không có electron nào thì sau khi nhảy nút, năng lƣợng của hệ không đổi nếu ở i có một electron (lấp đầy dƣới một nửa)- hệ dẫn điện. Còn nếu ở i ban đầu có hai electron thì năng lƣợng giảm đi. Nhƣ vậy nếu hệ lấp đầy trên một nửa (nếu kể tới nút thứ ba có 2 electron) thì cũng dẫn điện.
Tóm lại khi hệ lấp đầy khác một nửa thì dẫn điện. Xét hệ có một electron trên mỗi nút, sau khi nhảy nút thì năng lƣợng của hệ tăng lên một đại lƣợng là U. Nhƣ vậy số hạng thế năng có xu hƣớng làm hạt định xứ. Vậy là, hệ khi lấp đầy một nửa có dẫn điện đƣợc không là do so sánh về mặt độ lớn giữa số hạng động năng (quyết định tính linh động) và số hạng thế năng (quyết định tính định xứ).
Từ phân tích này ta thấy vì sao mô hình Hubbard lấp đầy một nửa có thể mô tả chuyển pha kim loại- điện môi Mott. 6 n=0: không có hạt tải: điện môi i j n= 2: Lấp đầy, không thể nhảy nút: điện môi 0<n<1: Nhảy nút lợi về năng lƣợng i j k 1<n<2: Nhảy nút lợi về năng lƣợng i j k n=1: Nhảy nút không lợi về mặt năng lƣợng Hình 1. Bức tranh năng lƣợng hai nút. Bây giờ ta xét chuyển pha Mott từ bức tranh phân vùng năng lƣợng Hubbard.
Xét trƣờng hợp U lớn, t nhỏ hơn coi là nhiễu loạn. Phổ năng lƣợng ở gần đúng tƣơng quan mạnh gồm 2 mức εat và εat + U. Nếu kể thêm t, lúc đó do sự nhảy nút thì các mức nhòe đi và trở thành vùng với bề rộng tỉ lệ với zt (Hình1.2: Do kể tới sự nhảy nút của điện tử (hình bên trái) mà mức năng lƣợng nhòe đi trở thành vùng năng lƣợng với bề rộng tỉ lệ với tích phân nhảy nút (hình bên phải) [14]. Các mức năng lƣợng đơn lẻ của nguyên tử trở thành vùng năng lƣợng khi xét đến sự nhảy nút.
Hai vùng này đƣợc gọi là các phân vùng (hay vùng con) Hubbard.3: Mật độ trạng thái điện tử dẫn với các giá trị khác nhau của U mô tả chuyển pha kim loại- điện môi Mott: trạng thái điện môi (a), trạng thái kim loại (c) và chuyển pha kim loại- điện môi Mott (b) [15]. Từ bức tranh các phân vùng Hubbard ta có thể mô tả chuyển pha kim loại- điện môi Mott nhƣ Hình1. Khi U lớn, U > Uc thì hai phân vùng tách nhau và ρ(εF) = 0 hay hệ ở trạng thái điện môi (Hình1.3a); trong trƣờng hợp ngƣợc lại khi U < Uc thì ρ(εF) = 0 và hệ ở trạng thái kim loại (Hình1.3c) trong khi ở 8 trƣờng hợp tới hạn U = Uc ~ zt, hai phân vùng chạm nhau, đây chính là hiện tƣợng chuyển pha trạng thái kim loại- điện môi (Hình1. Tất nhiên, để bức tranh này có lý thì ta cần giả thiết phân vùng Hubbard vẫn tồn tại kể cả khi U < Uc.
Bức tranh phân vùng Hubbard có vẻ tƣơng tự với trƣờng hợp bán dẫn hai vùng, tuy nhiên có sự khác biệt cơ bản là mỗi vùng Hubbard chỉ chứa tối đa N điện tử còn trong lý thuyết vùng tinh thể mỗi vùng có thể chứa tối đa 2N điện tử, việc tách vùng dẫn và vùng hóa trị trong lý thuyết vùng là do tƣơng tác điện tử- ion còn việc tách hai vùng Hubbard là do tƣơng quan điện tử- điện tử và vƣợt qua khuôn khổ của lý thuyết vùng năng lƣợng. Mô hình Hubbard sau này đã đƣợc mở rộng để nghiên cứu các vật liệu với cấu trúc phức tạp hơn: nhảy nút giữa các nút xa hơn lân cận gần nhất, sự tồn tại của nhiều quỹ đạo electron (mô hình Hubbard nhiều vùng), sự có mặt của các số hạng tƣơng tác khác (tƣơng tác Coulomb giữa các nút, tƣơng tác với momen từ của các ion…). Đặc biệt mô hình Hubbard đƣợc mở rộng cho các hạt boson mà ta xét dƣới đây. MÔ HÌNH BOSE- HUBBARD.1 Mạng quang học và mô hình Bose-Hubbard.
Mạng quang học đƣợc tạo ra khi ngƣời ta bẫy các nguyên tử trung hoà trong các bẫy quang học, tức là bẫy do các chùm tia laser. Nguyên lý của các bẫy quang học nhƣ sau: Muốn khƣ trú một nguyên tử ở một vùng không gian nào đó ta phải tác dụng một lực giữ nguyên tử hay nói một cách khác phải tạo ra một hố thế năng giam cầm nguyên tử. Vì nguyên tử trung hoà về điện nên tổng hợp lực Coulomb của trƣờng laser tác dụng trực tiếp lên nguyên tử bằng không. Tuy nhiên, do nguyên tử hợp thành từ hạt nhân và đám mây điện tử nên điện trƣờng do cảm ứng sẽ làm nguyên tử trở thành lƣỡng cực điện.
Độ lớn và hƣớng của lƣỡng cực điện phụ thuộc vào trƣờng điện từ của laser và hàm phân cực của nguyên tử. Về phần mình lƣỡng cực điện cảm ứng lại tác dụng với trƣờng điện từ của laser. Nhƣ vậy do thế lƣỡng cực của nguyên tử trong trƣờng điện từ của laser mà nguyên tử bị giam cầm. Vị trí bị giam cầm 9 phụ thuộc vào dáng điệu của chùm laser, vào sự điều chỉnh tần số laser (điều chỉnh đỏ hay điều chỉnh xanh) [19].