Luận án tiến sĩ nghiên cứu các hiệu ứng trong không gian giới hạn của ngưng tụ boseeinstein hai thành phần

Luận án tiến sĩ khám phá hiệu ứng trong không gian giới hạn của ngưng tụ Bose-Einstein hai thành phần, mở rộng hiểu biết vật lý lượng tử.

Trường đại học

Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ vật lý

2017

98
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯNG TỤ BOSE-EINSTEIN VÀ LÝ THUYẾT VỀ HỆ NGƯNG TỤ BOSE-EINSTEIN HAI THÀNH PHẦN PHÂN TÁCH

1.1. Tổng quan về ngưng tụ Bose-Einstein

1.2. Lý thuyết Gross-Pitaevskii cho hệ BECs không giới hạn

1.3. Phương pháp DPA cho hệ BECs không giới hạn

1.4. Phương pháp MDPA cho hệ BECs bị giới hạn bởi các tường cứng

1.5. Năng lượng dư trên mặt phân cách của hệ BECs

2. CHƯƠNG 2: SỨC CĂNG MẶT PHÂN CÁCH VÀ HIỆN TƯỢNG CHUYỂN PHA ƯỚT TRONG HỆ BECS BỊ GIỚI HẠN BỞI MỘT TƯỜNG CỨNG

2.1. Trạng thái cơ bản của hệ BECs bị giới hạn bởi một tường cứng

2.2. Sức căng mặt phân cách và hiện tượng chuyển pha ướt của hệ BECs trong tập hợp chính tắc lớn

2.3. Sức căng mặt phân cách của hệ BECs trong tập hợp chính tắc

3. CHƯƠNG 3: HIỆU ỨNG KÍCH THƯỚC HỮU HẠN CỦA SỨC CĂNG MẶT PHÂN CÁCH TRONG HỆ BECS BỊ GIỚI HẠN BỞI HAI TƯỜNG CỨNG

3.1. Trạng thái cơ bản của hệ BECs bị giới hạn bởi hai tường cứng

3.2. Hiệu ứng kích thước hữu hạn của sức căng mặt phân cách với điều kiện biên Dirichlet tại hai tường cứng. Lực Casimir-like

3.3. Hiệu ứng kích thước hữu hạn của sức căng mặt phân cách với điều kiện biên Robin tại hai tường cứng

Danh sách các công trình công bố kết quả nghiên cứu của luận án

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngưng tụ Bose Einstein

Ngưng tụ Bose-Einstein (BEC) là một trạng thái lượng tử vĩ mô, nơi mà một số lượng lớn các hạt boson cùng chiếm một mức năng lượng thấp nhất khi nhiệt độ của hệ thấp hơn nhiệt độ tới hạn. Hiện tượng này được tiên đoán bởi Bose và Einstein vào những năm 1920, nhưng phải đến năm 1995 mới được thực nghiệm xác nhận. BEC có liên quan mật thiết đến các hiện tượng vật lý quan trọng như siêu dẫn, rối lượng tử, và độ trung thành lượng tử. Các nghiên cứu về BEC đã mở ra nhiều ứng dụng trong công nghệ vật liệu, điện tử, và thông tin lượng tử.

1.1. Hiện tượng ngưng tụ Bose Einstein

Trong hệ khí boson lý tưởng, khi nhiệt độ của hệ giảm xuống dưới nhiệt độ tới hạn, phần lớn các hạt boson sẽ cùng chiếm trạng thái năng lượng thấp nhất, tạo thành ngưng tụ Bose-Einstein. Hiện tượng này xảy ra do các hạt boson không tuân theo nguyên lý loại trừ Pauli, cho phép nhiều hạt cùng chiếm một trạng thái lượng tử. BEC cũng có thể xảy ra với các hạt fermion khi chúng kết cặp tạo thành các hạt 'giả' boson. Nhiệt độ tới hạn của BEC thường rất thấp, cỡ 10^-3 K, tương đương với nhiệt độ của các nguyên tử lạnh nhất trong vũ trụ.

1.2. Phương trình Gross Pitaevskii

Phương trình Gross-Pitaevskii (GPE) là công cụ chính để mô tả trạng thái ngưng tụ của hệ hạt boson. Phương trình này được thiết lập dựa trên gần đúng trường trung bình (MFA), mô tả sự biến đổi của hàm sóng ngưng tụ theo thời gian và không gian. GPE có dạng tương tự phương trình Schrödinger, nhưng bao gồm thêm các thành phần phi tuyến do tương tác giữa các hạt. Phương trình này đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu các tính chất tĩnh và động lực học của BEC.

II. Hiệu ứng trong không gian giới hạn của ngưng tụ Bose Einstein hai thành phần

Ngưng tụ Bose-Einstein hai thành phần là hệ thống gồm hai loại hạt boson khác nhau, tương tác với nhau trong một không gian giới hạn. Các nghiên cứu về hệ thống này tập trung vào việc khám phá các hiệu ứng vật lý phát sinh do sự giới hạn không gian, chẳng hạn như sự thay đổi của sức căng mặt phân cáchhiện tượng chuyển pha ướt. Các hiệu ứng này có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu biết sâu hơn về các hệ lượng tử trong không gian giới hạn, cũng như ứng dụng trong các lĩnh vực công nghệ tiên tiến.

2.1. Sức căng mặt phân cách

Sức căng mặt phân cách là năng lượng tương tác giữa hai thành phần ngưng tụ trên một đơn vị diện tích mặt phân cách. Trong không gian giới hạn, sức căng này bị ảnh hưởng bởi các điều kiện biên tại các tường cứng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sức căng mặt phân cách phụ thuộc vào độ dài hồi phục của hàm sóng ngưng tụ và khoảng cách giữa các tường cứng. Điều này dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong các tính chất vật lý của hệ, đặc biệt là trong các hệ thống có kích thước hữu hạn.

2.2. Hiện tượng chuyển pha ướt

Hiện tượng chuyển pha ướt xảy ra khi ngưng tụ bị hấp thụ bởi một bức tường cứng, dẫn đến sự thay đổi đột ngột trong cấu trúc của hệ. Hiện tượng này được nghiên cứu thông qua việc phân tích sức căng bề mặt và vẽ giản đồ chuyển pha. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, sự giới hạn không gian có thể làm thay đổi đáng kể các điều kiện chuyển pha, dẫn đến sự xuất hiện của các pha mới trong hệ thống. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế các hệ thống lượng tử trong không gian giới hạn.

III. Mô hình lý thuyết và tính toán

Các nghiên cứu về ngưng tụ Bose-Einstein hai thành phần trong không gian giới hạn dựa trên các mô hình lý thuyếtphương pháp tính toán tiên tiến. Các phương pháp như gần đúng parabol kép (DPA)gần đúng parabol kép mở rộng (MDPA) được sử dụng để giải các phương trình Gross-Pitaevskii trong không gian giới hạn. Các kết quả tính toán cho thấy sự phù hợp cao giữa lý thuyết và thực nghiệm, đồng thời cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hiệu ứng vật lý phát sinh trong hệ thống.

3.1. Phương pháp DPA và MDPA

Phương pháp DPAMDPA là các công cụ quan trọng trong việc giải các phương trình Gross-Pitaevskii cho hệ BEC trong không gian giới hạn. Các phương pháp này dựa trên việc tuyến tính hóa các tham số trật tự ở mỗi phía của mặt phân cách, cho phép tìm được nghiệm gần đúng của phương trình. Các kết quả tính toán cho thấy, DPAMDPA cung cấp các nghiệm chính xác và phù hợp với các kết quả thực nghiệm, đặc biệt là trong việc nghiên cứu sức căng mặt phân cáchhiện tượng chuyển pha ướt.

3.2. Tính toán lý thuyết và ứng dụng

Các tính toán lý thuyết dựa trên DPAMDPA đã được sử dụng để nghiên cứu các tính chất vật lý của hệ BEC trong không gian giới hạn. Các kết quả tính toán cho thấy, sự giới hạn không gian có thể làm thay đổi đáng kể các tính chất của hệ, đặc biệt là sức căng mặt phân cáchhiện tượng chuyển pha ướt. Các nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hiệu ứng vật lý trong hệ thống, mà còn mở ra các hướng ứng dụng mới trong công nghệ lượng tử và vật liệu tiên tiến.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Tổng quan về ngưng tụ Bose-Einstein và lý thuyết về hệ ngưng tụ Bose-Einstein hai thành phần phân tách Chương này sẽ trình bày những vấn đề cơ bản có liên quan trực tiếp tới các nghiên cứu ở các chương tiếp theo, bao gồm những nội dung chính như sau: Tổng quan về BEC; Lý thuyết GP và phương pháp DPA cho hệ BECs không giới hạn; Phương pháp MDPA cho hệ BECs bị giới hạn bởi các tường cứng; Năng lượng dư (excess energy) trên mặt phân cách của hệ BECs trong GCE và CE. Trong đó trọng tâm là GPEs và phương pháp MDPA cho hệ BECs bị giới hạn bởi các tường cứng. Tổng quan về ngưng tụ Bose-Einstein 1. Hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein Trong hệ khí boson lý tưởng (không tương tác) gồm N hạt có spin nguyên chiếm thể tích V và tuân theo quy luật thống kê Bose-Einstein, số hạt có năng lượng từ εk đến εk + dε là dN (εk ) = n̄(εk )ρ(εk )dε, trong đó 1 n̄(εk ) = εk −µ (1.1) e kB T −1 là công thức thống kê Bose-Einstein xác định số hạt trung bình lấp đầy các mức năng lượng trong khoảng (εk , εk + dε), gV (2m)3/2 1/2 ρ(εk ) = εk .2) 4π 2 ~3 Ở đây, µ là thế hóa học, kB là hằng số Boltzmann, T là nhiệt độ tuyệt đối của hệ, g là bội suy biến (phụ thuộc vào spin) của năng lượng εk , m là khối lượng của hạt, ~ là hằng số Planck rút gọn.

Vì N hạt chiếm tất cả các mức năng lượng có thể có nên số hạt của hệ được xác định bởi Z+∞ Z+∞ Z+∞ gV (2m)3/2 ε1/2 N= dN (ε) = n̄(ε)ρ(ε)dε = ε−µ dε.3) 4π 2 ~3 e kB T − 1 0 0 0 Sử dụng (1.3) ta tính được tổng số hạt của hệ theo nhiệt độ tới hạn Tc (nhiệt độ tại đó µ = 0) g(mkB Tc )3/2 V N = 2.4) 2π 2 ~3 và nhiệt độ tới hạn theo mật độ hạt ~2 n2/3 Tc ≈ 3.5) g mkB với n = N/V là mật độ hạt. 8 Trong khoảng nhiệt độ 0 ≤ T ≤ Tc , số hạt có năng lượng ε > 0 của hệ được xác định tương tự như (1.6) 2π 2 ~3 Năng lượng của hạt không thể âm nên số hạt còn lại tồn tại ở trạng thái ε = 0, số hạt này là h  T 3/2 i N (ε = 0) = N − N (ε > 0) = N 1 − .7) Tc Nếu nhiệt độ của hệ hạt boson nhỏ hơn nhiệt độ mà tại đó thế hóa học bằng 0 (T < Tc ) thì phần lớn số hạt trong hệ cùng chiếm trạng thái có mức năng lượng thấp nhất. Hiện tượng này được gọi là hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein. BEC cũng xảy ra đối với những hạt fermion trong trường hợp chúng kết cặp với nhau tạo thành các hạt "giả" boson [45].5) ta ước lượng được nhiệt độ xuất hiện chuyển pha BEC là rất nhỏ, dưới 10−3 (K), tương đương với nhiệt độ của những nguyên tử lạnh nhất trong vũ trụ.

Các thí nghiệm đầu tiên đã xác nhận nhiệt độ của BEC cỡ 10−4 (K). Vì boson là những hạt có spin nguyên, số hạt cùng chiếm một trạng thái lượng tử không bị khống chế bởi nguyên lý loại trừ Pauli, nên số hạt ngưng tụ càng lớn nếu tổng số hạt (N ) của hệ càng nhiều và nhiệt độ (T ) của hệ càng nhỏ so với nhiệt độ tới hạn Tc , tất cả các hạt của hệ cùng ở trạng thái ngưng tụ tại T = 0(K), không có hạt nào ở trạng thái ngưng tụ nếu T > Tc. Bước sóng de Broglie của vi hạt được xác định thông qua nhiệt độ của hệ s 2π ~2 λT = , (1.8) mkB T bước sóng này cùng cỡ với khoảng cách trung bình giữa các hạt ở trạng thái ngưng tụ. Phương trình Gross-Pitaevskii và các phương trình thuỷ động lực học của hàm sóng ngưng tụ a.

Phương trình Gross-Pitaevskii Để mô tả trạng thái ngưng tụ của hệ N hạt boson, ta thiết lập GPE trong MFA từ Lagrangian L = Ld~x [65, 66].10) 2m 2 là mật độ Hamiltonian, U (~x) là mật độ thế ngoài, G = 4π ~2 a/m là cường độ tương tác giữa các hạt, a là độ dài tán xạ sóng s (s-wave scattering length) xác định kiểu tương tác giữa các hạt (a > 0 ứng với tương tác đẩy, a < 0 ứng với tương tác hút). Tác dụng S của hệ được xác định bởi S = L dt. Trong phép biến đổi R trường ψ → ψ + δψ , tác dụng S cũng biến đổi S → S + δS. Các biến đổi này phải tuân theo nguyên lý tác dụng tối thiểu δψ δS = 0, biến đổi của tác dụng S gây nên bởi sự biến đổi của trường bằng 0.

Từ đây ta có phương trình Euler-Lagrange ∂L  ∂L  − ∂ν = 0, (1.11) tìm được phương trình ~2 2 i~ ∂ t ψ = − ∇ ψ + U (~x)ψ + G|ψ|2 ψ (1.12) 2m gọi là GPE phụ thuộc thời gian. Nếu biểu diễn hàm sóng của hệ hạt dưới dạng ψ = Ψ(~x)e−iµt/~ , Ψ(~x) là hàm thực, thì (1.13) 2m 10 Phương trình (1.13) có dạng của phương trình Schrödinger dừng, trong đó mật độ thế tác dụng lên các hạt là tổng của mật độ thế ngoài U (~x) và thành phần phi tuyến G|Ψ(~x)|2 , được gọi là GPE không phụ thuộc thời gian. Lời giải của (1.13) cho biết hàm sóng ở trạng thái cơ bản của hệ hạt boson. Các phương trình thủy động lực học của ngưng tụ Nhân hai vế (1.12) với liên hợp phức của hàm sóng ψ ∗ rồi trừ đi kết quả nhân liên hợp phức của nó với ψ và thực hiện một vài biến đổi toán học ta thu được h i~  i 2 ∂t |ψ| + ∇ ∗ ψ∇ψ − ψ ∇ψ ∗ =0 (1.15) trong đó n = |ψ|2 , ~v = 2mn i~ ψ∇ψ ∗ − ψ ∗ ∇ψ là vận tốc của ngưng tụ,  ~j = i~ ψ∇ψ ∗ − ψ ∗ ∇ψ là mật độ động lượng của ngưng tụ.

Phương trình  2 (1.15) được gọi là phương trình liên tục của ngưng tụ. Một cách đơn giản, biểu thức của hàm sóng được viết dưới dạng hai thành phần gồm biên độ và pha của nó là ψ = ψ0 eiφ .12) rồi tách riêng phần thực - phần ảo ta thu được ~ ∂t |ψ0 |2 = − ∇(|ψ0 |2 ∇φ) (1.17) m là phương trình chuyển động của biên độ, 1 δE ∂t φ = − (1.18) ~ δn là phương trình chuyển động của pha.18) cho thấy ta có thể nghiên cứu các hệ ở trạng thái BEC trên quan điểm xem chúng như các chất lỏng lượng tử. Lý thuyết Gross-Pitaevskii cho hệ BECs không giới hạn Sau đây, bằng nguyên lý tác dụng tối thiểu ta sẽ thiết lập GPEs cho hệ BECs từ mật độ Lagrangian trong MFA. Mật độ Lagrangian của hệ BECs trong trường hợp tác dụng của thế ngoài bị triệt tiêu là 2 i~   (1.20a) X Hb = ψj∗ − ∇ ψj + V(ψ1 , ψ2 ) j=1 2mj là mật độ Hamiltonian trong pha khối, 2 gjj (1.

Hàm sóng của thành phần j(j = 1, 2) ψj = ψj (~x, t), với ~x = (x, y, z̃), đóng vai trò là tham số trật tự, mj là khối lượng hạt. Cường độ tương tác đẩy giữa hai hạt cùng loại là gjj = 4π ~2 ajj /mj > 0, giữa hai hạt khác loại là gjj ′ = 2π ~2 (1/mj + 1/mj ′ )ajj ′ > 0, ajj và ajj ′ là độ dài tán xạ sóng s. Điều kiện để hệ ở trạng thái phân tách là g12 2 − g11 g22 > 0 [2]. Áp dụng nguyên lý tác dụng tối thiểu ta tìm được phương trình Euler- Lagrange cho mỗi thành phần ∂L  ∂L  − ∂ν = 0, (1.21) ∂ψj ∂(∂ν ψj ) từ đây tìm được GPEs phụ thuộc thời gian ∂ψj h ~2 2 i i~ = − 2 2 ∇ + gjj |ψj | + gjj ′ |ψj ′ | ψj .22) ∂t 2mj 12 Nếu hàm sóng của mỗi thành phần được viết dưới dạng ψj (~x, t) = Ψj (~x)e−iµj t/~ , trong đó Ψj = Ψj (~x) là các hàm thực, µj là thế hóa học của thành phần j , với giả thiết hàm sóng ở trạng thái cơ bản Ψj (~x) không phụ thuộc vào các tọa độ (x, y), Ψj (~x) ≡ Ψj (z̃), thì mật độ Hamiltonian (1.20a) và mật độ thế tương tác (1.23a) X Hb = Ψ∗j − ∂ Ψj + V(Ψ1 , Ψ2 ), j=1 2mj z̃ 2 h gjj i |Ψj | + g12 |Ψ1 |2 |Ψ2 |2 , (1.24b) 2m2 √ Sử dụng các đại lượng z = z̃/ξ1 , φj = Ψj / nj0 = φj (z), ξ = ξ2 /ξ1 , K = √ g12 / g11 g22 > 1, P = µ2j /2gjj = gjj n2j0 /2, (1.24) được viết dưới dạng 2 Hb X  ξj2 2  Ĥb = = φj − 2 ∂z φj + V̂(φ1 , φ2 ), (1.26b) Hệ phương trình (1.24) được gọi là TIGPEs, ở dạng không thứ nguyên là (1.26), nghiệm của nó cho biết trạng thái cơ bản của hệ BECs với mặt phân cách giữa hai thành phần là mặt phẳng nằm tại z̃0.

Do tính chất đối xứng vô hạn của hệ dọc theo trục Oz̃ , ta luôn có z̃0 = 0. 13 Đại lượng nj0 là hằng số xác định mật độ hạt của thành phần j tại những vùng không gian đủ xa các biên sao cho ngưng tụ tại đó ở trạng thái đồng nhất (homogeneous state). P là áp suất của ngưng tụ có độ lớn như nhau trong cả hai thành phần khi chúng cùng ở pha cân bằng [41]. Độ dài hồi phục của hàm sóng ngưng tụ, ξj = ~/ 2mj gjj nj0 , là khoảng p cách trên đó hàm sóng ngưng tụ tăng từ 0 đến giá trị cực đại.

K là đại lượng đặc trưng cho mức độ phân tách của hệ BECs. Trong khuôn khổ luận án này, ta chỉ nghiên cứu hệ BECs ở trạng thái không trộn lẫn (K > 1) và trạng thái demixing (K = 1). Với K > 1 và hữu hạn, hai thành phần không phân tách hoàn toàn mà chúng thâm nhập lẫn nhau. Nói cách khác là chúng chồng lấn lên nhau ở vùng giáp danh với mặt phân cách.

Độ sâu thâm nhập (hay độ rộng của vùng không gian chồng lấn) giữa hai thành phần phụ thuộc vào cường độ tương tác giữa các hạt (K ) và độ dài hồi phục của các hàm sóng ngưng tụ (ξ ). Các hàm sóng ngưng tụ và đạo hàm bậc nhất của nó theo tọa độ z là các hàm liên tục. Do đó, mật độ thế tương tác (1.25b) cũng là hàm liên tục theo tọa độ. Lấy đạo hàm của (1.25b) theo các tham số trật tự φj rồi so sánh kết quả với (1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nghiên cứu hiệu ứng trong không gian giới hạn của ngưng tụ Bose-Einstein hai thành phần" khám phá các hiện tượng vật lý thú vị liên quan đến ngưng tụ Bose-Einstein, đặc biệt là trong bối cảnh hai thành phần. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hiệu ứng tương tác trong không gian giới hạn mà còn mở ra những ứng dụng tiềm năng trong công nghệ và vật lý lý thuyết. Độc giả sẽ được trang bị kiến thức về cách mà các yếu tố như nhiệt độ và áp suất ảnh hưởng đến trạng thái của ngưng tụ, từ đó hiểu rõ hơn về các hiện tượng vật lý phức tạp.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ mô hình bose hubbard của các nguyên tử siêu lạnh trong gần đúng tách liên kết". Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mô hình Bose-Hubbard và ứng dụng của nó trong nghiên cứu các nguyên tử siêu lạnh, từ đó tạo ra một cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh lý thuyết và thực nghiệm trong ngưng tụ Bose-Einstein.