Chương 1. Cơ sở lý luận về bảo tồn, phát triển rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội địa phương và biến động tài nguyên rừng ngập mặn tại đầm Nha Phu tỉnh Khánh Hòa. Đề xuất mô hình bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng tại xã Ninh Ích thị xã Ninh Hòa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN RỪNG NGẬP MẶN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những nghiên cứu về rừng ngập mặn trên thế giới 1. Nghiên cứu về thành phần loài thực vật ngập mặn Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu và tổng hợp về thành phần loài TVNM.
Nghiên cứu hệ thực vật RNM của (Tomlinson, 1986; Wang et. RNM được phân thành 02 nhóm: các loài cây RNM thực sự (True mangroves) và cây tham gia nhập RNM (Associate mangroves). Cây RNM thực sự gồm các loài có nhiều điểm thích nghi về mặt hình thái, chỉ hiện diện trong HST RNM. Theo Saenge et al (1983), trên thế giới có 60 loài TVNM [36]; Spalding et al (2010) cho rằng toàn thế giới có 73 loài TVNM chính thức.
Những nghiên cứu về RNM trên thế giới đều thống nhất khu vực Đông Nam Á là một trong những địa điểm phong phú và đa dạng nhất về thành phần loài TVNM, là trung tâm đa dạng sinh học của RNM. RNM ở Đông Nam Á là nơi có số loài đa dạng nhất, Tomlinson (1986) ghi nhận có 42 loài TVNM. Chan et al (2009), Spalding (2010) ghi nhận có sự hiện diện của 45 loài TVNM ở đây. Trong số các loài TVNM trên thế giới, một số loài đang phát triển thuận lợi ở Khánh Hòa, đầm Nha Phu gồm đước, bần, mấm, vẹt, su ổi.
Nghiên cứu diện tích và đặc điểm phân bố rừng ngập mặn Theo FAO (2007), có nhiều công trình nghiên cứu về diện tích và phân bố RNM trên thế giới, số liệu về diện tích, phân bố và phân vùng RNM trên thế giới có sự khác nhau, thể hiện qua các công trình nghiên cứu về RNM sau: Theo Saenger et al. (1983), tổng diện tích trên thế giới được đánh giá vào khoảng 16.000 ha, trong đó ở vùng nhiệt đới Châu Á có 7.000 ha, ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ có 5.000 ha và ở vùng nhiệt đới Châu Phi có 3. Theo Lanly, Ogino & Chihara (1998), diện tích RNM thế giới hơn 15 triệu ha, Groombridge (1992) là 19,9 triệu ha, Saenger et al; Aksornkoae (1993) là 16,67 triệu ha, theo Thurairaja nă 1994 là 16,2 triệu ha. Nhưng tất cả các quan điểm đều thống nhất, RNM ở Đông Nam Á có diện tích 6,8 triệu ha, phân bố rộng.
Khu RNM 10 lớn nhất ở Đông Nam Á được tìm thấy ở Indonesia (gần 60 % tổng số diện tích Đông Nam Á), Malaysia (11,7%), Myanmar (8,8%), Papua New Guinea (8,7%) và Thái Lan (5,0%), Việt Nam (2,1%), Philippines (2,2%), Cambodia (1,3), Brunei (0,3%), Timor (0,03%), Singapore (0,01%) [37]. Một nghiên cứu khác gần đây của tổ chức liên minh RNM thế giới năm (2021), đã công bố tổng diện tích RNM thế giới đến 2016 là 135.883 km2 trong đó: Bắc và Trung Mỹ và vùng Ca-ri-bê 20.926 km2 chiếm 32%, Nam Mỹ 18.943 km2 chiếm 14%, Tây và Trung Phi 19.767 km2 chiếm 15%, Đông và Nam Phi 7.276 km2 chiếm 5%, Nam Á 8.414 km2 chiếm 6%, Đông Nam Á 43.767 km2 chiếm 16%, Đông Á 717 km2 chiếm 0,3%, Úc và New Zealand 9.983 km2 chiếm 7%, những hòn đảo ở Thái Bình Dương 6.285 km2 chiếm 5%, Trung Đông 313 km2 chiếm 0,2% [41]. Những kết quả có thể vận dụng vào nghiên cứu RNM ven biển Khánh Hòa: Khánh Hòa nằm trong khu vực Đông Nam Á là trung tâm đa dạng sinh học RNM của thế giới. Vì vậy, Khánh Hòa là địa bàn có thể phát triển RNM thuận lợi nếu biết vận dụng kiến thức về RNM của thế giới.
Mô hình, dự án bảo tồn rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng đã được triển khai Mô hình của Philippin: Bắt đầu từ những năm 1980, Philippine chuyển giao đáng kể các quyền lực cho cộng đồng về trồng và bảo vệ rừng.000 ha năm 1920, một nửa diện tích RNM đã bị mất ngày nay chỉ còn 247.600 ha do việc khai thác quá mức và chuyển sang nuôi trồng thủy sản (Primavera & Esteban, 2008). Trong hai thập kỷ qua, việc phá rừng đã chậm lại. Dự án trồng lại RNM Buswang được tài trợ bởi DENR năm 1990 dành cho chính quyền huyện Kalibo Aklan thông qua hội bảo tồn RNM Kalibo. 28 gia đình là những người được hưởng lợi của dự án.
Dự án được thực hiện tại một vùng 50 ha ven biển gần với cửa sông Barangay thuộc Kalibo. Tổ chức phát triển Uswag (tổ chức phi chính phủ) đã làm việc trực tiếp với cộng đồng, đóng vai trò cầu nối giữa những người dân địa phương với các cơ quan chính phủ. Kết quả là dự án đã trồng thành công 45 ha đước và 5 ha dừa nước. Mỗi gia đình tham gia dự án được nhận 1- 2 ha trồng, chăm sóc và bảo vệ cây trong 3 năm.
Dự án cũng đã tạo cho nhân dân một vùng đệm. Năm 1994 những người tham gia dự án đã được giao đất trong vòng 25 năm. Năm 1995 cộng đồng nhận giải thưởng Galing Pook nhằm tôn vinh những 11 nỗ lực trong việc trồng RNM thành công. Như vậy, sự bền vững lâu dài cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng người dân địa phương với sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính quyền địa phương và của các tổ chức phi chính phủ [3].
Mô hình của Thái Lan: Yad Fon từ lâu đã đi đầu trong ý tưởng “rừng do cộng đồng quản lý” ở cấp xã. Chỉ có một xã được Yad Fon chọn để thực hiện dự án. Một cán bộ dự án được chỉ định sinh sống tại vùng dự án, theo dõi hoạt động của cộng đồng và sau một thời gian sẽ hướng dẫn địa phương giải quyết một vài vấn đề bức xúc nhất. Những dự án nhỏ dựa vào cộng đồng như đào một giếng nước ăn đã được thực hiện.
Yad Fon khuyến khích thành lập “quỹ tiết kiệm” thôn, chẳng hạn như thành lập Hợp tác xã đánh cá. Trở nên ít phụ thuộc về tài chính là một bước quan trọng trong việc tăng quyền lực cho cộng đồng. Cùng với giáo dục về sử dụng bền vững nguồn TNTN, dân làng đã thực hiện chương trình tự quản lý và giám sát tài nguyên ven biển. Kết quả là tăng sản lượng cá và những bãi cỏ biển tươi tốt, giúp động viên bà con ngư dân đánh bắt hợp sinh thái hơn.
Chính quyền tỉnh và cơ quan Lâm nghiệp đã khuyến khích dự án rừng cộng đồng, tức là thu hoạch những lâm sản phụ thay vì chặt hạ cây rừng. Những kỹ năng quản lý rừng theo cách này đã đem lại những thay đổi tích cực. Các chương trình thử nghiệm dựa trên những kỹ thuật đã được kiểm chứng này của Yad Fon đã được thực hiện tại các xã lân cận [3]. Nghiên cứu về rừng ngập mặn Việt Nam 1.
Những công trình nghiên cứu về thành phần loài thực vật ngập mặn Lê Công Khanh (1986), dựa vào tính chất ngập nước và độ mặn của nước, đã xếp 57 loài TVNM vào 3 nhóm: nhóm mọc trên đất bồi ngập nước (độ mặn của nước từ 15 - 32 %) có 25 loài; nhóm sống trên đất bồi thường ngập nước (độ mặn 0,5 - 15 %) có 9 loài và nhóm sống trên đất bồi ít ngập nước lợ có 12 loài [19]. Theo Phan Nguyên Hồng (1999), TVNM ven biển Việt Nam có 78 loài thuộc 2 nhóm: nhóm loài TVNM “thực sự” có 37 loài thuộc 20 chi, 14 họ và nhóm loài TVNM “tham gia” có 42 loài thuộc 36 chi, 28 họ [18]. Những năm gần đây, các nghiên cứu ở Việt Nam về RNM nói chung và thành phần loài ngập mặn nói riêng được thực hiện ở nhiều địa phương có RNM. Theo Đỗ Đình Sâm và cs.
(2005) Việt Nam có 37 loài TVNM thực thụ. Huyện Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) là địa phương có số loài TVNM nhiều 12 nhất với 33 loài, Cà Mau có 32 loài, Sóc Trăng 24 loài [22]. Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Thơi (2013), thành phần loài TVNM trên thể nền đá, sỏi, san hô bán ngập triều tại huyện Côn Đảo, Bà Rịa - Vũng Tàu có 33 loài thuộc 20 họ, trong nhóm TVNM thực thụ gồm 24 loài thuộc 11 họ và nhóm loài cây tham gia gồm 9 loài cây thuộc 9 họ. Từ đó tác giả đề xuất và lựa chọn các loài Đâng, Đước đôi, Dà vôi và Sú đỏ để gây trồng cho các đảo phía Nam [31].
Theo kết quả điều tra của Đặng Văn Sơn (2014), thực vật RNM ở Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ có 112 loài, 87 chi, 45 họ, 29 bộ. Trong đó, có 30 loài TVNM chủ yếu, 38 loài TVNM tham gia RNM và 44 loài cây du nhập. Kết quả nghiên cứu của Phạm Ngọc Dũng (2015), xác định tại Thừa Thiên Huế có 42 loài TVNM, thuộc 30 họ, trong đó loài TVNM chính thức và 24 loài TVNM tham gia vào RNM [1]. Phân bố loài cây ngập mặn ở Việt Nam Loài TVNM Vùng Tham Các loài chủ yếu Thực sự Cộng gia Đông Bắc Đâng, Trang, Vẹt dù, Mắm biển, Mắm 16 36 52 (Quảng Ninh) quăn, Sú, Bần chua.
Đồng bằng sông Đâng (Đước vòi), Trang, Vẹt dù, Mắm 13 36 49 Hồng biển, Mắm quăn, Sú, Bần chua. Trung Bộ Bắc Trung Bộ: Vẹt dù, Mắm quăn, - Bắc Trung Bộ Bần chua, Sú, Bần trắng, Dừa nước. - Nam Trung Bộ 22 41 63 Nam Trung Bộ: Đước đôi, Đưng, Vẹt dù, Dà quánh, Dà vôi, Mắm quăn, Mắm trắng, Bần trắng, Sú Bà Rịa - Vũng Đước, Đưng, Vẹt dù, Vẹt đen, Vẹt Tàu, Cần Giờ khang, Vẹt tách, Dà quánh, Dà vôi, 31 66 97 Mắm trắng, Mắm quăn, Mắm biển, Bần trắng, Bần ổi, Bần chua, Dừa nước. Đồng bằng sông Đước, Đưng, Vẹt dù, Bần đen, Vẹt Cửu Long Khang, Vẹt tách, Dà quánh, Mắm biển, 32 66 98 Mắm lưỡi đồng, Bần trắng, Bần ổi, Bần chua, Dừa nước.
Những công trình nghiên cứu về diện tích và đặc điểm phân bố RNM Việt Nam có đường bờ biển dài 3260 km, với hơn 4000 hòn đảo lớn, nhỏ ven bờ, các loại hình đất ngập nước ven bờ rất phong phú như đất RNM bãi triều lầy, vịnh, ven đảo, cửa sông, rạn san hô; do vậy, diện tích RNM ở đây cũng rất lớn. Đỗ Đình Sâm và cs. (2005), công bố diện tích RNM ngày càng bị thu hẹp do khai thác quá mức, tác động của hoạt động kinh tế và BĐKH. Diện tích RNM Việt Nam đã giảm sút rất lớn, từ 408.000ha vào năm 1962 và còn 252.000 ha vào năm 1982, đến năm 1999 còn lại 156.608 ha và đến tháng 12 năm 2000 chỉ còn 155.