Chương 1: Những vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự Miễn trách nhiệm hình sự xuất hiện khi có trách nhiệm hình sự, khái niệm, nội dung của miễn trách nhiệm hình sự được bắt nguồn từ trách nhiệm hình sự. Do đó, làm sáng tỏ nội dung của trách nhiệm hình sự thì sẽ phản ánh hình thức của trách nhiệm hình sự là miễn trách nhiệm hình sự.
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý và được thể hiện bằng việc người phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau của Nhà nước do Luật hình sự quy định. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các tội phạm và các trường hợp phạm tội đều giống nhau. Do đó, để công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao, cùng với việc phân loại tội phạm, Luật hình sự Việt Nam cũng đồng thời phân hóa các trường hợp phạm tội, các đối tượng phạm tội khác nhau để có đường lối xử lý phù hợp, nhanh chóng, chính xác, công bằng và đúng pháp luật. Đặc biệt, sự phân hóa các trường hợp phạm tội và người phạm tội còn thể hiện ở chỗ không phải tất cả các trường hợp phạm tội hay tất cả những người phạm tội đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đó là trường hợp khi có đầy đủ những điều kiện nhất định, thì một người đã phạm tội họ có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự là một thuật ngữ pháp lý và được sử dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Trên cơ sở phân tích khoa học các quan điểm khác nhau về trách nhiệm hình sự, chúng tôi rút ra khái niệm chung nhất về trách nhiệm hình sự như sau “Trách nhiệm hình sự là là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp 8 dụng các quy phạm của pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do pháp luật hình sự quy định. Theo đó, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội và chính vì thế, nó là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác.
Trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội. Là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, miễn trách nhiệm hình sự thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời qua đó nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội. Hiện nay, cũng giống như khái niệm trách nhiệm hình sự, trong khoa học luật hình sự xung quanh khái niệm miễn trách nhiệm hình sự vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể là: - “Miễn trách nhiệm hình sự là việc hủy bỏ sự đánh giá tiêu cực đối với người đó dưới hình thức bản án” [5, tr. 31]; - “Miễn trách nhiệm hình sự là một nguyên tắc của luật hình sự dựa trên cơ sở xung đột về lợi ích, dùng để chỉ ra rằng không có tội phạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một người nào đó đã thỏa mãn cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm.
Nguyên tắc này được nhắc đến như là miễn trách nhiệm hình sự và không phải là miễn hình phạt bởi vì bị cáo không chỉ tránh khỏi hình phạt mà hơn thế nữa hành vi đó không được coi là tội phạm trong những điều kiện miễn trừ” [12, tr. - “Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện 9 hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [4, tr. 7]; - “Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định” [18, tr. 269]; - “Miễn trách nhiệm hình sự là việc miễn kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với người thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội.
Nói cách khác, miễn trách nhiệm hình sự là miễn những hậu quả pháp lý đối với người phạm tội do pháp luật hình sự quy định” [13, tr. 14]; - “Miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có nghĩa là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo cả miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích. Trên thực tế có thể có trường hợp người phạm tội được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn xét xử. Trong trường hợp này, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang án tích” [14, tr.
Như vậy, về cơ bản tất cả các quan điểm trên đây về khái niệm miễn trách nhiệm hình sự đều đầy đủ về nội dung, ngắn gọn và điều quan trọng là thống nhất trong việc khẳng định rõ được nội dung và bản chất pháp lý của nó. Tuy nhiên, để đưa ra một khái niệm đầy đủ và chính xác về nội dung, ngắn gọn và nhất quán về mặt pháp lý, đồng thời phù hợp với thực tiễn và chính sách nhân đạo của Nhà nước, theo chúng tôi khái niệm miễn trách nhiệm hình sự phải bao gồm các nội dung như: a) Bản chất pháp lý của nó (miễn trách nhiệm hình sự) là gì; b) Hình thức thể hiện của nó như thế nào; c) Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nào áp dụng; d) Đối tượng bị áp dụng là ai; và đ) Phải đáp ứng căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể nào. Tóm lại, trên cơ sở tổng kết các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với việc phân tích các quy định của pháp luật hình sự có liên quan, dưới góc độ khoa 10 học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm miễn trách nhiệm hình sự có thể được định nghĩa như sau: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng văn bản với nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định. Tuy nhiên cần phân biệt giữa miễn trách nhiệm hình sự và những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.
Loại trừ trách nhiệm hình sự là những trường hợp được quy định trong các điều của Bộ luật Hình sự về việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, khi có đủ các căn cứ do pháp luật hình sự quy định, việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự, nhưng không bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi nguy hiểm đó không phải chịu trách nhiệm hình sự. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có các đặc điểm cơ bản như: (i) Hành vi gây thiệt hại bị luật hình sự cấm và được quy định trong các điều luật cụ thể; (ii) Hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã hội nhưng được coi là hợp pháp về mặt pháp lý, do vậy, không bị coi là tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; hành vi bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác phải trong giới hạn của luật hình sự quy định; (iii) Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được thực hiện trong trường hợp cụ thể không bị coi là tội phạm phải có đủ các căn cứ do Bộ luật Hình sự quy định. Hành vi đó phải đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm mà pháp luật hình sự quy định như: Tính trái pháp luật; tính chất lỗi; do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội; đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự Xuất phát từ khái niệm nêu trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành có liên quan đến miễn trách nhiệm hình sự, chúng tôi có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của nó như sau: 11 Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng.
Nói một cách khác, miễn trách nhiệm hình sự là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước để thực hiện chính sách phân hóa và thể hiện phương châm trong đường lối xử lý, đó là “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo”.