CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm chung về giấy 2. Một số tính chất về độ bền của giấy 3. Nguyên lý cắt vật liệu Luan13van 1.
Khái niệm chung về giấy [1] Giấy đã xuất hiện cach đây khoảng 2000 năm và cho tới ngày nay, giấy luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển văn hoá khoa học kỹ thuật của loài người. Giấy là nguyên liệu có dạng tấm mỏng được cấu thành chủ yếu nhờ các sợi thực vật đan kết lại với nhau. Đối với ngành công nghiệp in giấy giữ một vai trò quan trọng trong quá trình in ấn tạo ra sản phẩm, mặc dù vật liệu sử dụng trong quá trình in ấn rất đa dạng như: polyme, kim loại, vải… Ưu điểm của giấy đối với ngành công nghiệp in: Thoả mãn nhiều đặc tính công nghệ, tính chất tiêu dùng, tính kinh tế Cấu trúc xốp giúp cho giấy có khả năng chịu được áp lực trong quá trình in của các phương pháp in truyền thống và đặc tính dễ bám mực. Mỏng, nhẹ nhưng bền, bề mặt tương đối phẳng Độ trắng của giấy đảm bảo cho chất lượng tái tạo hình ảnh Khả năng tái sinh tốt Nhược điểm Khả năng thấm hút của giấy khá lớn Sự không đồng nhất về cấu trúc.2: chồng giấy in Hình I.1: Thớ giấy phóng to Khi nói đến giấy sử dụng trong ngành in, ngoài thông số về kích thước giấy, người ta thường đề cập đến hai thông số quen thuộc đó là độ dày của giấy và định lượng giấy: -Độ dày giấy in thông thường từ 0.25mm, giấy tráng phủ từ 0.07- 1mm, giấy carton làm bìa cứng có thể dày tới 4mm - Định lượng là khối lượng trên một đơn vị diện tích của giấy và giấy bìa, được biểu diễn theo đơn vị g/m2.
Các tính chất về độ bền của giấy [ 2] 2.1 Độ bền kéo [1] Giáo trình vật liệu in - Trần Thanh Hà; Luan14van Độ bền kéo là một tính chất rất hữu ích để mô tả độ bền nói chung của bất kỳ vật liệu nào. Đối với giấy, đó là lực tác động tối đa lên một đơn vị chiều dài, theo hướng song song với chiều dài mà một băng giấycó thể chịu được cho đến khi đứt lìa. Trong thử nghiệm độ bền kéo, mẩu giấy thủ nghiệm được kéo cho tới khi bị đứt lìa, lực kéo tối đa mà băng giấy có thể chịu được cho tới khi đứt lìa được ghi nhận lại. Đơn vị đo là kN/m.
Từ đó có thể tính được chỉ số kéo căng theo công thức dưới đây: Chỉ số kéo căng = độ kéo căng/ định lượng Đơn vị của chỉ số kéo căng là Nm/g. Bên cạnh lực tác động tối đa gây ra lực căng của băng giấy và độ dãn, một đường cong như thế cũng cho biết năng lượng hấp thụ lực căng. Đây chính là động tác cần để làm đứt băng giấy.Về mặt toán học, độ hấp thụ năng lượng căng W được định nghĩa như sau: (1) =∫ Trong đó F là lực tác động, và l là độ dãn tương ứng Hình I.3: đồ thị biểu diễn các giá trị độ bền Đơn vị của độ hấp thu năng lượng kéo là J/m2. Phép tính toán ứng suất của độ đàn hồi cũng sử dụng đường cong của độ dãn do lực tác động.
Nó phản ảnh độ dốc cực đại của đường cong này (phần gạch xéo) như trong hình 3. Một khái niệm rất gần gũi nữa là độ bền uốn. Hình (3) minh họa cách tính độ bền căng, chỉ số bền căng, độ dãn, ứng suất đàn hồi và độ bền uốn cong từ một đường cong dãn do lực (kéo- căng) của giấy. ỉ ố ự ă = × Trong đó ∆ w: là định lượng Độ ã à = b : chiều rộng của băng giấy thử nghiệm t: độ dày của băng giấy thử nghiệm ∆ E: module đàn hồi Độ ề ố ( )= × ∆ TS: độ bền uốn cong đà ồ = 2.2 Độ dãn Độ dãn hay độ dài băng giấy lúc bị đứt là độ gia tăng chiều dài của băng giấy cho tới khi đứt lìa, đượ cdiễn tả dưới dạng % so với chiều dài ban đầu.
Đối với đa số các loại [2] : Thử nghiệm tính chất giấy và bột giấy - Hiệp hội giấy việt nam Luan15van giấy thì độ dãn thường là 1-5%,nhưng cũng có thể cao hơn 20% đối với một số loại giấy vệ sinh.3 Độ bục Độ chịu bục là sức ép tối đa mà tờ giấy có thể chịu được trước khi rách khi bị tác động theo phương thẳng góc với mặt phẳng ngang của miếng giấy thử nghiệm. Đơn vị đo độ chịu bục là kilopascal, kPa. Việc tính toán dùng công thức sau: Chỉ số chịu bục = độ chịu bục/định lượng Chỉ số chịu bục được biểu diễn bằng kPa x m2/g.4 Độ bền xé Độ bền xé hay sức kháng xé nội bộ là lực tác động cần có để tiếp tục xé tờ giấy ra từ mẩu cắt ban đầu trong một tờ giấy riêng lẻ, Giấy hay trong một xấp nhiều tờ giấy. Nếu vết cắt này là theo chiều máy xeo thì kết quả là độ bền xé hướng xeo.
Tương tự, độ bền xé theo hướng ngang là kết quả của thửnghiệm xé theo hướng ngang máy xeo. Độ bền xé phụ thuộc rất nhiều vào tính định hướng của xơ sợi trong tờ giấy.Đơn vị của độ bền xé là Newton (N) hay milinewton (mN). Từ độ bền xé, có thể tính được chỉ số xé theo công thức (9) như sau: Chỉ số xé = độ bền xé/định lượng Hình I.4: thử nghiệm độ bền xé Đơn vị của chỉ số xé là mN x mP 2.5 Độ bền gấp (Folding endurance) Độ bền gấp hay độ chịu gấp (xếp) là khả năng mà một băng giấy chịu được cho đến khi đứt khi bị xếp lại dưới một tải lực nào đó. Lực tác động này là không đổi, nhưng nói chung chỉ là một phần nhỏ của độ bền căng của giấy.
Độ chịu xếp được diễn tả trực tiếp bằng số lần xếp đôi lại mà giấy có thể chịu được, nó là logarit thập phân của P số lần xếp đôi, theo ISO 5626.6 Độ bền bề mặt (hardness) Độ bền bề mặt của giấy là khả năng chống lại lực kéo khiến các sợi xơ hay bó sợi xơ bị bung ra khỏi bề mặt. Tờ giấy có độ bền bề mặt kém có thể bị tưa lông trên mặt, hoặc gây ra các vấn đề khi máy giấy đang chạy, hoặc phá hỏng công tác in ấn.7 Độ bền kéo zero pan Độ bền theo hướng z có liên quan tới khả năng của giấy hay giấy bìa chống lại lực căng theo hướngvuông góc với mặt phẳng của tờ giấy (hướng z). Sau khi vượt quá độ bền căng theo hướng z, sẽ xảy ra hiện tượng đứt gãy trong cấu trúc tờ giấy chứ không chỉ trên bề mặt. Độ bền theo hướng z do đó không liên quan gì với độ bền bề mặt hay tính xổ lông của giấy.
Nguyên lý cắt Có 3 nguyên lý cắt cơ bản: Bộ phận Bệ gá dao ép giữ - Knife cut : vật liệu được cắt được giấy đặt trên một mặt phẳng cố định, quá trình cắt cơ bản được thực hiện nhờ Dao Tay kê sự chuyển động xiên của lưỡi dao từ Chồng giấy trên bề mặt vật liệu đi xuống. Nguyên lý này được ứng dụng ở các máy cắt giấy (xén giấy) trong ngành công nghiệp in, tuy nhiên nguyên lý cơ bản này được các hãng chế tạo máy cắt phát triển thêm một bậc bằng cách kết Bàn cắt Nẹp cắt hợp chuyển động xiên có thêm sự Hình I.5: nguyên lý cắt Knife cut thay đổi góc tiếp xúc ở đầu còn lại của lưỡi dao trong quá trình chuyển động cắt nhằm giảm thiểu lực phản khán của chồng giấy lên mép của lưỡi dao cũng như tăng cường hiệu quả lực cắt trên từng phân đoạn trong suốt chiều dài của đường cắt. Do lực cắt của dao là không đổi trong quá trình dao di chuyển nên hiệu quả của quá trình cắt này phụ thuộc nhiều vào bốn yếu tố: góc chuyển động của dao, lực giữ vật liệu ( lực bàn ép), góc vát của lưỡi dao, đặc tính và khả năng giữ cố định của vật liệu đỡ phía dưới lưỡi dao ( nẹp cắt ) sau khi lưỡi dao đã đi qua khỏi vùng vật liệu cần cắt. β: góc vát của lưỡi dao Fv: lực tác động vuông góc tlên lưỡi dao Fh: lực tác động ngang dọc theo chiều dài lưỡi dao Fs: lực tác động trực tiếp lên mặt vát của lưỡi dao Swinging shear cut angle: góc Hình I.6: lực tác động lên lưỡi dao đang chuyển động chuyển động xiên của dao song song xiên quỹ đạo cong ở một đầu Bảng 1: thông số lực tác động lên lưỡi dao cắt của ba loại giấy (thông số này được xác định với lưỡi dao sử dụng góc vát 200, và góc chuyển động xiên 2-30 ) Luan17van Nguyên lý cắt Knife-cut được ứng dụng trong các máy cắt một mặt và ba mặt cho vật liệu dạng tờ rời, bộ phận cắt trong các máy xả cuộn hoặc tại các máy in cuộn.
Lưỡi dao cắt sử dụng theo nguyên lý này được cấu tạo bởi hai phần: - Phần thân dao thường bằng thép hợp kim S45C có tính dẻo dai, chịu va đập tốt, ít biến dạng.7 : máy cắt Polar 115 sử dụng nguyên lý cắt Knife cut - Phần lưỡi dao được làm bằng thép hợp kim hàm lượng cao như HSS (high speed steel- thép cắt gọt tốc độ cao- thép gió) có khả năng chịu mài mòn tốt. Hiện nay một số nhà sản xuất đã ứng dụng vật liệu carbide có độ cứng và khả năng chống mài mòn cao hơn thép gió (HSS) để làm lưỡi dao nhằm tăng tuổi thọ cho lưỡi dao tuy nhiên giá thành của loại dao này cao gấp nhiều lần so với loại dao HSS. Thực tế cho thấy: Đối với giấy mềm: góc dao β = 16o, p=15 N/mm. Đối với giấy cứng và chặt β = 19-22o, p=25-30 N/mm.
Đối với giấy carton β = 19o, p=30-40 N/mm.Lực cắt thay đổi trong suốt đường đi của dao và đạt giá trị cao nhất khi dao cắt được 2/3 chồng giấy. Vì vậy khi tính độ bền cơ học cho dao cần tính đến lực cắt tối đa Pmax:Pmax = 1.5pL Luan18van Đĩa dao cắt Với vật liệu cần cắt ở dạng cuộn, nguyên lý knife cut vẫn được ứng dụng để chia cuộn vật liệu ra thành nhiều cuộn nhỏ theo chiều xả cuộn hoặc tạo đường cấn vạch, đột lỗ trên cuộn vật liệu. Dao cắt được chế tạo Cuộn theo dạng đĩa quay ngược chiều với một vật liệu trục đỡ hình trụ nằm phía dưới, vật liệu sẽ được cắt trong quá trình vật liệu di chuyển giữa dao và trục đỡ.