CHƯƠNG 1 - Các mô hình dạy học STEM CƠ SỞ LÝ LUẬN - Quy trình thiết kế hoạt động dạy học theo định hướng VỀ GIÁO DỤC STEM - Quy trình triển khai hoạt động dạy học theo định hướng STEM STEM Nghiên cứu SGK Nghiên cứu tình CHƯƠNG 2 Toán và Vật lí huống STEM sẵn có THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC Tình huống dạy học theo định hướng STEM Dựa vào Dựa vào CHƯƠNG 3 tình huống đã thiết kế quy trình tổ chức NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Nghiên cứu thực nghiệm về tính khả thi của tình huống 7. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Việc DH lượng giác theo định hướng giáo dục STEM. - Khách thể nghiên cứu: Việc DH lượng giác ở trường phổ thông tại Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: Tại một trường THPT trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Về đối tượng khảo sát: HS lớp 11 đã có kiến thức về chu kỳ tuần hoàn của HSLG. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC STEM Mục tiêu của chương Chương này có mục tiêu trả lời cho Câu hỏi 1 bằng cách làm rõ các đặc trưng của giáo dục STEM, cụ thể là về 4 lĩnh vực S, T, E, M và mối liên hệ giữa chúng, đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa giáo dục STEM và phương pháp DH tích hợp. Bên cạnh đó, chương này sẽ nêu ra quy trình thiết kế và triển khai một tình huống DH theo định hướng giáo dục STEM trong đó nhấn mạnh vai trò của môn Toán, đây là nền tảng định hướng cho chương 2 và chương 3. Tổng quan về giáo dục STEM 1.
Bốn lĩnh vực S, T, E, M STEM là thuật ngữ viết tắt của bốn từ Khoa Học - Science (S), Công Nghệ - Technology (T), Kỹ Thuật – Engineering (E) và Toán Học - Mathematics (M). Theo Tytler (2016), thuật ngữ STEM thường được dùng để nói về ba bối cảnh sau: Các ngành khoa học nghiên cứu S, T, E, M. Giáo dục STEM. Các nghề nghiệp sử dụng các kiến thức liên quan đến S, T, E, M.
Vasquez (2015) miêu tả giáo dục STEM như là một cách tiếp cận DH bốn lĩnh vực Khoa Học, Công Nghệ, Kỹ Thuật và Toán Học, trong đó rào cản ngăn cách giữa chúng được xóa bỏ, tri thức thuộc các lĩnh vực gắn kết với nhau trong một tình huống học tập liên quan tới thế giới thực và thực tế cuộc sống của HS. Vì thế, đặc thù sản phẩm đầu ra của hoạt động STEM mang tính “vật chất”, tức là sản phẩm HS làm ra phải phục vụ được cho thực tế hoặc một mô phỏng thực tế (Nguyễn Thị Nga et al. Dưới đây là ý kiến mà Dugger (2010) và một số tác giả đưa ra để giải thích 4 lĩnh vực của giáo dục STEM. Science (Khoa học) là lĩnh vực nghiên cứu và học tập về các đối tượng của thế giới tự nhiên, gồm các môn học như Sinh học, Hóa học, Vật lý, Địa chất, … Khoa học vừa là quá trình tích lũy tri thức khám phá được từ thế giới tự nhiên, vừa là 13 quá trình tổng hợp nên những tri thức mới.
Trong giáo dục STEM, kiến thức khoa học giúp HS hiểu biết không chỉ về thế giới tự nhiên mà còn về nhu cầu khoa học dẫn đến sự xuất hiện những công nghệ mới trong lịch sử, về quá trình ứng dụng tri thức khoa học để tạo ra những sản phẩm kĩ thuật và về cách sử dụng tri thức toán để nối khớp và giải quyết các vấn đề (English, 2015). Technology (Công nghệ) là sự cải tiến và vận dụng tài nguyên tự nhiên vào việc tạo ra và vận hành các công cụ công nghệ để phục vụ nhu cầu của con người. Yếu tố Công nghệ giúp tạo ra sự thông hiểu sâu sắc hơn về 3 yếu tố còn lại thông qua quá trình HS áp dụng kiến thức vào việc vận hành máy tính và các phần mềm chuyên dụng để mô phỏng và minh họa (Lantz, 2009). Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng yếu tố Technology (Công nghệ) của giáo dục STEM không chỉ có nghĩa là “công nghệ thông tin”, mà còn cần được hiểu như là sự am hiểu về các vật liệu, thiết bị (Nguyễn Thị Nga et al.
Engineering (Kỹ thuật) là quá trình thiết kế và tạo ra sản phẩm để phục vụ cho đời sống thực tế, được định hình qua các ràng buộc đòi hỏi thỏa mãn các định luật khoa học hoặc các ràng buộc về tiền của, thời gian, vật liệu, độ bền. Kỹ thuật sử dụng các tri thức khoa học, toán học cũng như các công cụ công nghệ để làm ra sản phẩm. Giữa Kỹ thuật và Công nghệ có nhiều sự tương đồng, thậm chí nhiều tài liệu sử dụng Kỹ thuật và Công nghệ như những từ đồng nghĩa. Tuy nhiên, theo Lantz (2009), yếu tố Kỹ thuật chú trọng đến quá trình làm ra sản phẩm hơn là bản chất của sản phẩm.
Kỹ thuật cung cấp môi trường lý tưởng để thể hiện mối quan hệ giữa Khoa học, Công nghệ và Toán học vì Kỹ thuật cần thiết sử dụng Khoa học, Công nghệ và Toán học để làm nên sản phẩm (Herschbach, 2011). Mathematics (Toán học) là môn khoa học nghiên cứu các quy luật và mối quan hệ4. 4 Trích theo định nghĩa của Hiệp hội vì Sự tiến bộ Khoa học Mỹ AAAS (1993, tr.23) 14 Trong giáo dục STEM, Toán học không chỉ đòi hỏi HS tư duy suy luận mà còn cần đến khả năng mô hình hóa để tìm và giải quyết các vấn đề của Khoa học, Công nghệ và Kỹ thuật. Cùng với việc làm rõ bốn lĩnh vực S, T, M, E trong giáo dục STEM, Dugger (1993) đã xem xét mối quan hệ giữa công nghệ T với mỗi một trong ba lĩnh vực còn lại.
a) Giữa Khoa học và Công nghệ Giữa Khoa học và Công nghệ có những vùng giao thoa trong đó cả hai chồng chéo và bổ túc cho nhau. Công nghệ có phạm vi rộng hơn so với khoa học ứng dụng và khoa học không đơn thuần là lý thuyết cho công nghệ. Khoa học phụ thuộc vào công nghệ để kiểm tra, thử nghiệm, xác minh và áp dụng nhiều định luật, lý thuyết và nguyên tắc khoa học. Ngược lại, công nghệ dựa trên khoa học để đưa ra các nghiên cứu, quy luật, nguyên tắc và cơ sở tri thức của nó.
Mối quan hệ giữa Khoa học và Công nghệ Khoa học (S) Công nghệ (T) Nghiên cứu thế giới tự nhiên. Nghiên cứu sự cải tạo của con người lên thế giới tự nhiên. Quan tâm đến câu hỏi “Là gì?” để khám Quan tâm đến câu hỏi “Bằng cách phá đối tượng. nào?” để tạo ra đối tượng.
Liên quan đến định lý, nguyên lý, học Liên quan đến ứng dụng, công cụ, thuyết, … hiện vật, phát minh, đổi mới, … Dựa trên các giả thuyết được rút ra từ các Dựa trên việc thử và sai rút ra từ các định lý. trường hợp riêng lẻ. Kết quả không cần được xã hội chấp nhận. Kết quả cần được xã hội chấp nhận Phụ thuộc vào Công nghệ và Toán học.
và tiêu thụ. Phụ thuộc vào Khoa học và Toán học.6-7) 15 b) Giữa Công nghệ và Kỹ thuật Giữa Kỹ thuật và Công nghệ có nhiều sự tương đồng do cả Kỹ thuật và Công nghệ cùng có chung nguồn gốc là giải quyết các vấn đề thực tiễn. Nhiều tài liệu sử dụng Kỹ thuật và Công nghệ như những từ đồng nghĩa. Tuy nhiên, ta có thể làm rõ sự khác nhau giữa Kỹ thuật và Công nghệ dựa trên bảng so sánh 1.
Mối quan hệ giữa Công nghệ và Kỹ thuật Công nghệ (T) Kỹ thuật (E) Nghiên cứu sự cải tạo của con người Nghiên cứu việc sử dụng thế giới tự lên thế giới tự nhiên. nhiên cho lợi ích của con người. Quan tâm đến câu hỏi “Bằng cách Quan tâm đến câu hỏi “Bằng cách nào?” nào?” để tạo ra đối tượng. để tạo ra đối tượng.
Liên quan đến ứng dụng, công cụ, hiện Liên quan đến thiết kế, hệ thống, phân vật, phát minh, đổi mới, … tích dữ liệu, … Dựa trên việc thử và sai rút ra từ các Dựa trên các kết quả nghiên cứu có sẵn. trường hợp riêng lẻ. Kết quả cần được xã hội chấp nhận và Kết quả cần được xã hội chấp nhận và tiêu thụ. Phụ thuộc vào Công nghệ và Toán học.
Phụ thuộc vào Khoa học và Toán học.7-8) c) Giữa Công nghệ và Toán học Toán học cung cấp cho chúng ta các công cụ phân tích cần thiết để tạo ra các thay đổi trên thế giới tự nhiên. Mối quan hệ giữa Công nghệ và Toán Công nghệ (T) Toán học (M) Nghiên cứu sự cải tạo của con người lên Nghiên cứu các quy luật và mối quan thế giới tự nhiên. Quan tâm đến câu hỏi “Bằng cách nào?” Quan tâm đến “phân tích và chứng để tạo ra đối tượng. minh” Liên quan đến ứng dụng, công cụ, hiện Liên quan đến phân tích, số, hình, quan vật, phát minh, đổi mới, … hệ không quan, logic ký hiệu, tính toán, xấp xỉ, … Dựa trên việc thử và sai rút ra từ các Dựa trên tư duy và logic.
trường hợp riêng lẻ. Kết quả cần được xã hội chấp nhận và Kết quả không cần được xã hội chấp tiêu thụ. Phụ thuộc vào Khoa học và Toán học. Phụ thuộc vào Công nghệ, Khoa học và Kỹ thuật.9) Tóm lại, từ những phân tích trên, Dugger (1993) cho rằng có mối quan hệ “cộng sinh” giữa Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học, mà trong đó Công nghệ đóng vai trò trung gian.
Dưới đây là một ví dụ của Jolly (2017)5 có thể minh họa phần nào cho vai trò và mối quan hệ giữa S, T, E, M. Vấn đề thực tế được đặt ra trong tình huống là khu vực HS sống thường xuyên chịu ảnh hưởng của động đất, cần phải xây dựng một căn nhà để có thể đứng vững trong các cơn địa chấn. Vai trò và mối quan hệ giữa S, T, E, M được thể hiện như trong sơ đồ sau: 5 Tham khảo Dương Anh Khoa, 2018, tr.