CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ MÔI TRƯỜNG DO BÃO GÂY RA 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước thuộc lĩnh vực đề tài Trong bối cảnh hiện nay, Biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến nhanh hơn dự báo và có tác động mạnh mẽ tới nhiều ngành, lĩnh vực.
Cùng với đó, thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan xảy ra ngày càng nhiều và nghiêm trọng trên qui mô toàn thế giới, gây hậu quả nghiêm trọng tới cuộc sống của con người. Thiên tai là hiện tượng tự nhiên, tuy nhiên dưới tác động của con người như phát triển công nghiệp, đô thị hoá quá nhanh cùng với sự gia tăng dân số và khai thác tài nguyên vượt giới hạn đã làm gia tăng mức độ và hậu quả của thiên tai. Thiên tai không những đe dọa tính mạng con người mà nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động kinh tế- xã hội và phá hủy môi trường. Từ những năm cuối thế kỷ 20, việc đánh giá thiệt hại kinh tế do thiên tai đã xuất hiện trên thế giới.
Theo thời gian, các kỹ thuật đánh giá và qui trình đánh giá ngày càng được hoàn thiện. Kết quả đánh giá ngày càng hợp lý, tin cậy, là nguồn thông tin đầu vào có giá trị cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các chương trình, chính sách phục hồi, quản lý rủi ro thiên tai và môi trường hiệu quả. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới Các nghiên cứu liên quan đến tác động thiên tai tới hoạt động kinh tế được chia thành ba nhóm chính: (1) Nhóm thứ nhất bao gồm những nghiên cứu phát triển vi mô ở các vùng địa lý khác nhau trong việc đối phó với những thay đổi bất ngờ về thu nhập và khả năng của các hộ gia đình trong việc phòng chống những biến động đó. Nhóm này tập trung nghiên cứu phản ứng của các hộ trước mưa lũ, hạn hán ở các nước đang 6 phát triển.
Paxon (1972) sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian về mưa lũ kết hợp với dữ liệu chéo về thu nhập hộ để nghiên cứu tác động của thiên tai tới thu nhập hộ gia đình. Tác giải phát hiện mưa lũ gây tác động mạnh và nghịch biến tới thu nhập nhưng không tác động đến chi tiêu của hộ. Hơn nữa, mưa lũ chỉ có tác động ngắn hạn nhưng không có tác động đáng kể đến thu nhập dài hạn. (2) Nhóm thứ hai tập trung nghiên cứu các tác động vĩ mô của thiên tai.
Công trình nghiên cứu tác động của thiên tai với nền kinh tế lần đầu được thực hiện bởi Albala – Betrarnd (1993). Nghiên cứu này phân tích trên 28 thiên tai xảy ra tại 26 quốc gia từ năm 1960 tới 1979. Kết quả cho thấy thiên tai làm tăng GDP lên 0.4%, tăng sản lượng công nghiệp và xây dựng, tăng thâm hụt ngân sách và thương mại nhưng không có ảnh hưởng tới lạm phát và tỷ giá. Noy (2009) nghiên cứu thiên tai tại 109 quốc gia từ năm 1970 đến 2003 và đưa ra kết luận: quốc gia có tỷ lệ biết chữ cao, có thể chế tốt, thu nhập đầu người cao, độ cở mở thương mại lớn, chi tiêu của chính phủ cao hơn thì có thể chịu đựng tốt hơn những cú sốc về thiên thai và ngăn chặn được sự lan tỏa rộng rãi vào nên kinh tế vĩ mô.
Loayza và các cộng sự (2012) so sánh tác động của thiên tai với những nước đang phát triển và những nước phát triển. Nhóm nghiên cứu khảng định bão có ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển nông ngiệp tại các nước đang phát triển nhưng với các nước phát triển thì không ảnh hưởng. Động đất có tác động tích cực tới phát triển công nghiệp tại các nước phát triển và lũ lụt bình thường (Moderate Floods) có ảnh hưởng tích cực tới phát triển nông nghiệp. Tác động đồng biến lên GDP trong nghiên cứu của Alalba và Betrarnd được cho là dòng đầu tư tăng lên sau thiên tai để bù đắp cho tài sản bị phá hủy.
Hallegatte (2007) gọi hiện tượng này là “phá hủy tạo tác“tương tự như khái niệm được Shumpeter (2008) giới thiệu, trong trường hợp này hàm ý rằng phá hủy dẫn tới tăng đầu tư. Trong đó tác giả sử dụng phương pháp ước lượng đơn gải bằng cách kết hợp kỹ thuật hiệu ứng cố định bình phương nhỏ nhất cho ba giai đoạn (Fixed Effect Three Stage Least Square) với phương pháp hệ thống hóa ước tính điểm Blundell – Bond để kiểm soát hiệu ứng phản hồi giữa các biến va sự hiện diện của các biến trễ. 7 (3) Nhóm thứ ba nghiên cứu thiên tai trong một quốc gia với một tình huống cụ thể. Tác giả Horwich đã phân tích tác hại của trận động đất Kobe năm 1995 ở Nhật Bản.
Tác giả cung cấp số liệu và thông tin của Kobe trong 19 tháng sau thiên tai và rút ra bài học cho các nước khác. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu tư nhân lực trong phát triển kinh tế. Tất cả các tài sản vốn bị hủy hoại đều được khôi phục nhanh chóng khi yếu tố con người được bảo vệ và chuẩn bị kỹ càng. Selcuk và Yeldan (2001) đã quan sát trận động đất xảy ra năm 1999 tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Các tác giả đã sử dụng phương pháp cân bằng tổng thể để đánh giá các thiệt hại. Họ cho rằng tác động ban đầu của trận động đất lên GDP ở trong khoảng - 4.8 GDP, phụ thuộc vào chính sách được chính quyền hoặc các nhà tài trợ quốc tế thực thi. Giải pháp khắc phục hồi tài sản bị phá hủy và giảm tác động tiêu cực của trận động đất được đề xuất là thực hiện chính sách giảm thuế gián tiếp thông qua các trợ cấp của chính phủ cho những thành phần kinh tế tư nhân. Một nghiên cứu về tác động của động đất lên nạn di cư đã được Jaramillo nghiên cứu năm 2006.
Tác giả đã sử dụng dữ liệu bảng về người lao động và hộ gia đình di dân từ Elsavado sang Mỹ để kiểm nghiệm tác động của trận động đất năm 2001 lên nạn di cư sang Mỹ. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trận động đất làm giảm lượng người di cư sang Mỹ, xác xuất trung bình của mức di cư lên phương Bắc giảm 337.11% cho mỗi độ lệch chuyển đo lường mức thiệt hại của trận động đất. Tác giả kết luận việc giảm di cư là một chiến lược đối phó của người dân khi họ giữ lao động ở lại trong nước để khắc phục hậu quả thiên tai chứ không phải thiên tai làm giảm nguồn tài chính đáp ứng cho việc di cư. Tác giả Okuyama đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nạn phá rừng và thiên tai.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hậu quả nghiêm trọng của trận lốc xảy ra tháng 10/1999 ở vùng bờ biển Orissa, Ấn Độ là do nạn phá rừng làm tăng tác động tiêu cực của thiên tai. Thiên tai đã giết hại hàng nghìn người trong vòng vài phút. Trong một nghiên cứu khác, Brown & cộng sự (2006) cũng cho thấy cơn sóng thần ở Ấn Độ Dương năm 2004 giết hại hơn 300.000 người là hậu quả gián 8 tiếp của nạn phá rừng xung quanh khu vực này. Ở Việt Nam, tác giả Ngọc Cẩm (2011) cũng chỉ ra nguyên nhân của trận lụt năm 2010 gây tổn thất nghiêm trọng về người và của là hậu quả trực tiếp của nạn phá rừng trên thượng nguồn.
Noy và Nualsri (2007) khẳng định thiên tai gây ra những thiệt hại tài sản lớn nhưng không có tác động dài hạn lên tăng trưởng, trong khi những thiệt hại về người lại làm giảm tăng trưởng dài hạn. Paxon (1992) nghiên cứu tác động của mưa lũ lên thu nhập hộ gia đình tại Thái Lan, trong đó làm giảm thu nhập ngắn hạn nhưng không có tác động dài hạn. Ngược lại Hallstrom, (2008) nghiên cứu ảnh hưởng dài hạn của bão Iniki lên quần đảo Haiwai và khảng định bão Iniki làm giảm 12% dân số và nền kinh tế chưa phục hồi hoàn toàn sau 18 năm bão xảy ra, đồng thời cũng làm giảm thu nhập đầu người tại các quần đảo này. Gần đây, mô hình kiểm soát tích hợp (synthetic control) cũng được phát triển và sử dụng trên thế giới để đánh giá những tác động trong trung và dài hạn của thiên tai tới nền kinh tế.
Phương pháp này được giới thiệu lần đầu tiên bởi Abadie (2003) và sau đó được lặp lại trong nghiên cứu của Abadie và cộng sự (2010). Trong phương pháp này, dữ liệu được chia thành hai nhóm: Nhóm kiểm soát và nhóm xử lí. Thông qua việc tạo lập mô hình tăng trưởng kinh tế của các vùng kiểm soát và vùng xử lý, có thể bóc tách được tác động nhóm nhân tố ảnh hưởng (thiên tai) để từ đó tạo dựng kịch bản phát triển kinh tế của khu vực bị ảnh hưởng trong trường hợp không có thiên tai. Thông qua so sánh các kịch bản phát triển có và không có thiên tai, có thể tính được phần tác động của thiên tai tới sự phát triển kinh tế trong cả ngắn, trung và dài hạn, thậm chí là các ngành tại khu vực bị ảnh hưởng.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực đề tài Ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về thiệt hại kinh tế do thiên tai gây ra, đặc biệt là các nghiên cứu mang tính hệ thống gồm cả thiệt hại trực tiếp, gián tiếp, trước mắt và lâu dài của các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan và thiên tai. Mặc dù, đã có một số nghiên cứu đề cập đến một số khía cạnh của thiệt hại sau thiên tai nhưng mới chỉ dừng ở mức đánh giá ngắn hạn và trên một phạm vi nghiên cứu cụ thể là một vùng/tỉnh nào đó nên tính khái quát không cao. 9 Năm 2001, Cục Bảo vệ môi trường đã thưc hiện nghiên cứu “Đánh giá lũ lụt miền Trung năm 1999 và Tổng kết thiệt hại về môi trường sau lũ”. Nghiên cứu đã xác định được các vấn đề môi trường do lũ lụt gây ra đối với khu vực miền Trung và đề xuất một số biện pháp phòng ngừa.
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra khảo sát tình hình lũ lụt và tình trạng môi trường thực tế, đồng thời sử dụng phương pháp thống kê số liệu về thiệt hại nhằm xác định các vấn đề môi trường do lũ lụt gây ra. Kết quản nghiên cứu đã đưa ra nhận định về mức độ ô nhiễm với một số yếu tố môi trường có tiêu chuẩn so sánh. Năm 2007, Tác giả Nguyễn Việt đã nghiên cứu, đánh giá tác động của thiên tai đến khu vực Chân Mây- Lăng Cô (Huế).