Luận án tiến sĩ nghiên cứu kết cấu mặt đê chống lũ và kết hợp giao thông

Luận án tiến sĩ nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất kết cấu mặt đê chống lũ hiệu quả, kết hợp giao thông bền vững, ứng dụng thực tiễn.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

169
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÊ SÔNG KẾT HỢP GIAO THÔNG

1.1. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống đê sông

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Hệ thống đê sông tỉnh Bắc Ninh

1.1.2.1. Đặc điểm thủy văn, sông ngòi và địa chất công trình
1.1.2.2. Quy định về tiêu chuẩn phòng lũ đối với các tuyến đê sông tỉnh Bắc Ninh

1.1.3. Cao trình đỉnh đê hiện trạng các tuyến đê sông tỉnh Bắc Ninh

1.1.4. Quy hoạch hệ thống đê sông kết hợp làm đường giao thông tỉnh Bắc Ninh

1.2. Các nghiên cứu ở trong và ngoài nước về đê kết hợp giao thông

1.2.1. Nghiên cứu ở trong nước

1.2.2. Nghiên cứu của nước ngoài

1.3. Sử dụng chất kết dính để gia cố đất trên thế giới và Việt Nam

1.3.1. Nghiên cứu, sử dụng xi măng gia cố đất trên thế giới

1.3.2. Nghiên cứu, sử dụng xi măng gia cố đất ở Việt Nam

1.4. Những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu đê kết hợp giao thông

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ CẢI THIỆN ĐẤT THÂN ĐÊ ĐẢM BẢO YÊU CẦU CHỐNG LŨ VÀ KẾT HỢP GIAO THÔNG

2.1. Các giải pháp gia cố đất hiện nay

2.1.1. Giải pháp thay thế nền

2.1.2. Các giải pháp cơ học

2.1.3. Các giải pháp hóa học

2.1.4. Các phương pháp vật lý gia cố đất

2.1.5. Các giải pháp thủy lực học

2.2. Cơ sở khoa học lựa chọn cấp phối và vật liệu gia cố đất thân đê

2.2.1. Lý thuyết đường cong cấp phối

2.2.2. Phương pháp lấy mẫu và đánh giá chất lượng mẫu gia cố

2.2.3. Nghiên cứu sử dụng xi măng kết hợp tro bay để gia cố đất

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH CÁC GIẢI PHÁP GIA CỐ ĐÊ KẾT HỢP LÀM ĐƯỜNG GIAO THÔNG

3.1. Nghiên cứu thực nghiệm trong phòng

3.1.1. Vật liệu và thành phần của lớp đất thân đê gia cố

3.1.2. Kết quả thí nghiệm trong phòng và phân tích lớp đất thân đê gia cố

3.1.3. Vật liệu và thành phần của cấp phối đá dăm gia cố

3.1.4. Kết quả thực nghiệm trong phòng và phân tích cấp phối đá dăm gia cố

3.2. Nghiên cứu thực nghiệm ngoài hiện trường

3.2.1. Nghiên cứu thực nghiệm gia cố lớp đất thân đê

3.2.2. Thực nghiệm hiện trường xác định hệ số thấm

3.2.3. Đánh giá tác động của hỗn hợp đất gia cố đối với môi trường

3.2.4. Kết quả thực nghiệm hiện trường lớp cấp phối đá dăm gia cố tro bay và xi măng

3.3. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHO ĐÊ HỮU ĐUỐNG, TỈNH BẮC NINH

4.1. Giới thiệu đoạn đê hữu Đuống từ Km21+600÷Km31+500

4.2. Áp dụng kết quả nghiên cứu cho đê hữu Đuống, Bắc Ninh

4.3. Kiểm tra lại sự phù hợp của kết cấu đề xuất theo quyết định 3230/QĐ-BGTVT

4.3.1. Tính toán modul đàn hồi chung Et của nền đất và của móng dưới bằng vật liệu hạt

4.3.2. Tính độ cứng tương đối chung của cả kết cấu Rg

4.3.3. Tính ứng suất do tải trọng trục xe gây ra

4.3.4. Tính ứng suất kéo uốn do gradient nhiệt độ gây ra

4.3.5. Kiểm tra các điều kiện tới hạn

4.4. Phân tích ổn định của đê với kết cấu mặt đường đề xuất so với kết cấu mặt đường theo yêu cầu của ngành giao thông

4.4.1. Phân tích ổn định đê với kết cấu truyền thống

4.4.2. Phân tích ổn định đê với kết cấu đề xuất

4.4.3. So sánh kết quả tính toán giữa hai loại mặt cắt đê

4.5. So sánh giá thành xây dựng giữa hai phương án

4.6. Công tác tổ chức thi công lớp đất thân đê gia cố làm nền thượng trong kết cấu áo mặt đường đê

4.6.1. Công tác chuẩn bị

4.6.2. Công tác tổ chức thi công lớp đất gia cố tro bay và xi măng

4.6.3. Nghiệm thu lớp đất gia cố

4.7. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC 1: PHỤ LỤC HÌNH ẢNH THÍ NGHIỆM TRONG PHÒNG VÀ THỰC NGHIỆM NGOÀI HIỆN TRƯỜNG ĐÊ HỮU ĐUỐNG, TỈNH BẮC NINH

PHỤ LỤC 2: PHỤ LỤC TÍNH TOÁN GIÁ THÀNH XÂY DỰNG 1KM ĐÊ CỦA PHƯƠNG ÁN TRUYỀN THỐNG (PA1) VÀ PHƯƠNG ÁN ĐỀ XUẤT (PA2)

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Kết cấu mặt đê và chống lũ

Luận án tập trung nghiên cứu kết cấu mặt đê nhằm đảm bảo khả năng chống lũ hiệu quả. Các giải pháp gia cố đất thân đê được đề xuất để tăng cường độ ổn định, đặc biệt khi kết hợp với giao thông hiệu quả. Nghiên cứu sử dụng xi măngtro bay để cải thiện tính chất cơ lý của đất, đảm bảo an toàn chống lũ và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của đường giao thông.

1.1. Gia cố đất thân đê

Các phương pháp gia cố đất thân đê bao gồm sử dụng xi măngtro bay để tăng cường độ chịu lực. Nghiên cứu thực nghiệm trong phòng và hiện trường đã chứng minh hiệu quả của việc kết hợp các vật liệu này trong việc cải thiện độ ổn định của đất.

1.2. Phân tích rủi ro

Luận án tiến hành phân tích rủi ro liên quan đến việc sử dụng đất thân đê kết hợp giao thông. Các yếu tố như thấm nước, lún đất và tải trọng giao thông được đánh giá để đảm bảo an toàn cho công trình.

II. Kết hợp giao thông hiệu quả

Luận án đề xuất kết cấu mặt đê kết hợp giao thông hiệu quả, đảm bảo cả hai chức năng chống lũ và giao thông. Nghiên cứu tập trung vào việc thiết kế kết cấu mặt đường đê sao cho đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của ngành giao thông.

2.1. Thiết kế công trình

Các giải pháp thiết kế công trình được đề xuất bao gồm việc sử dụng cấp phối đá dămxi măng để tạo lớp móng vững chắc cho mặt đường đê. Kết cấu này đảm bảo độ bền và khả năng chịu tải trọng giao thông.

2.2. Đánh giá hiệu quả

Luận án tiến hành đánh giá hiệu quả của kết cấu mặt đê kết hợp giao thông thông qua các thí nghiệm thực tế. Kết quả cho thấy sự cải thiện đáng kể về độ ổn định và khả năng chịu lực của công trình.

III. Ứng dụng thực tiễn

Luận án áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế tại đê hữu Đuống, tỉnh Bắc Ninh. Các giải pháp đề xuất đã được kiểm chứng và cho thấy hiệu quả trong việc cải thiện kết cấu mặt đêquản lý lũ.

3.1. Quy hoạch đô thị

Nghiên cứu góp phần vào quy hoạch đô thị bằng cách đề xuất các giải pháp kết hợp hệ thống giao thôngcông trình thủy lợi. Điều này giúp tối ưu hóa không gian và nguồn lực trong quá trình phát triển đô thị.

3.2. Bảo vệ môi trường

Việc sử dụng tro bay trong gia cố đất thân đê không chỉ cải thiện tính chất cơ lý của đất mà còn góp phần bảo vệ môi trường bằng cách tái sử dụng chất thải công nghiệp.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất kết cấu mặt đê đảm bảo chống lũ và kết hợp giao thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÊ SÔNG KẾT HỢP GIAO THÔNG 1.1 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống đê sông 1.1 Trên thế giới Trên thế giới, những tuyến đê đầu tiên được hình thành từ rất xa xưa, tùy mục đích khác nhau mà các tuyến đê được xây dựng thuần túy bằng đất hoặc bằng đá. Mục đích chính của các tuyến đê nhân tạo là tạo nên một phòng tuyến ngăn chặn lũ lụt bảo vệ các vùng dân cư hoặc đồng ruộng trũng. Cũng có những tuyến đê được hình thành với mục đích tạo ra một đường vận tải thủy nối liền các dòng sông lớn với nhau hoặc nối từ sông ra biển phục vụ phát triển thương mại hàng hải. Hà Lan là một đất nước điển hình về công nghệ xây dựng đê trên thế giới do đa số lãnh thổ của nước này thấp hơn mực nước biển.

Ở Hà Lan, những con đê được xây dựng sớm nhất vào khoảng thế kỷ 11 [1]. Cho đến ngày nay, Hà Lan đã có một hệ thống đê ngày một lớn (siêu đê) bền vững bảo vệ người dân, cơ sở hạ tầng quốc gia, ngăn chặn nước biển, sóng dâng với các trận bão lũ lịch sử.1 Hệ thống các tuyến đê của Hà Lan 4 Hình 1.2 Đập ngăn triều Maeslant Hà Lan (nguồn: internet) Ở Mỹ, hệ thống đê nổi tiếng đã được xây dựng dọc theo sông Mississippi và sông Sacramento. Đây được xem là hệ thống đê lớn nhất trên thế giới với tổng chiều dài khoảng 5. Đê được đắp ban đầu bởi những người định cư Pháp ở Louisiana trong thế kỷ 18, chiều cao đê khi đó được đắp khoảng 0,91m chạy dài dọc theo bờ sông khoảng 80km để bảo vệ thành phố New Orleans.

Sau này, vào năm 1882 các kỹ sư quân đội Mỹ kết hợp với Ủy ban sông Mississippi đã tiến hành mở rộng hệ thống đê sông Mississippi để bảo vệ các vùng đất dọc bờ sông trải dài từ Cairo, Illinois đến đồng bằng sông Mississippi ở Louisiana với chiều cao đắp bình quân từ 7,3m đến 15,0m. Vùng ảnh hưởng của đê sông mái hạ lưu được khai thác sử dụng [2]. Ở châu Á, một số tuyến đê đầu tiên được xây dựng vào khoảng năm 2.600 trước Công nguyên trên lưu vực sông Ấn (giữa Pakistan và Bắc Ấn Độ).000 năm trước vào thời kỳ Ai Cập cổ đại, hệ thống đê đã được xây dựng dọc theo bờ trái của sông Nile, cho đến ngày nay có tổng chiều dài lên tới khoảng 970km kéo dài từ Aswan đến đồng bằng sông Nile trên bờ Địa Trung Hải. Trung Quốc cổ đại cũng là thời kỳ mà nhiều tuyến đê được xây dựng để chống lại thiên tai lũ lụt, bảo vệ dân cư làng mạc và những cánh đồng rộng lớn.

Ở Nhật Bản, do sông, suối thường có chiều dài ngắn và dốc nên mỗi khi có lũ thì thường xảy ra lũ tập trung nhanh và mạnh. Vì vậy, người Nhật có nhiều biện pháp để quản lý ngăn dòng nước, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đê với tiêu chuẩn cao (High-Standard Levees - siêu đê). Các dự án siêu đê được xây dựng từ những năm 1987 dọc theo các con sông lớn ở Kyoto và Osaka như Tonegawa, Edogawa, Arakawa, Tamagawa, Yodogawa và Yamatogawa. Ở 5 trong phạm vi siêu đê người ta bố trí không gian để xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng đường khẩn cấp dọc theo dòng sông (Hình 1.3 Đê an toàn cao ở Nhật Bản (nguồn: internet) 1.2 Ở Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, có rừng núi trùng điệp, có đồng bằng châu thổ lớn và cao nguyên hùng vĩ.370 con sông có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính, tạo nên mạng lưới dày đặc và những đồng bằng phì nhiêu như hiện nay, nhưng cũng gây nên không ít tai họa cho các thế hệ người dân Việt Nam [4].

6 Trước hết, nói về sông Hồng, con sông có châu thổ lớn quan trọng bậc nhất, gắn bó với lịch sử đất nước, nơi đã hình thành nền văn minh sông Hồng, cơ sở đầu tiên của nền văn minh dân tộc. Châu thổ sông Hồng rộng khoảng 15.000km2, được hình thành do sức bồi đắp của sông Hồng là chủ yếu. Từ thưở xa xưa, theo quy luật của tự nhiên, khi chưa có bàn tay người khai phá, châu thổ sông Hồng cũng ngổn ngang đầm lầy và lòng sông chia cắt. Nước lũ hàng năm tràn ngập châu thổ, bùn cát hạt thô lắng đọng ven sông, còn phù sa hạt mịn theo nước đi bồi lắng xa hơn, gần sông bồi nhiều hơn, hình thành những dải đất cao, xa sông bồi ít, hình thành những ô trũng tự nhiên.

Những vùng nước lũ chảy xiết ít bồi tụ hơn những vùng nước có lưu tốc nhỏ. Dần dần, bộ mặt châu thổ trở nên lồi lõm, điển hình là các ô trũng ở xa sông. Vết tích ngày nay còn rõ như: vùng trũng Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nằm giữa sông Hồng, sông Đáy và sông Châu Giang; vùng sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đuống;. Ngoài ra còn nhiều vùng trũng nhỏ ở ven biển hoặc ở trung du mà hiện nay còn thấy rải rác ở các địa phương.

Những ô trũng tự nhiên, xa xưa đều ngập nước quanh năm và rất lầy lội, có những cây cỏ, gai góc, sình lầy và hoang dại. Trong những buổi đầu sơ khai của tổ tiên ta, con người chỉ biết lợi dụng những ô trũng để gieo trồng và gặt hái. Về sau dân số phát triển, con người đã chuyển sang nền kinh tế sản xuất nông nghiệp, lấy cây lúa nước làm cây lương thực chủ yếu. Lúc này, người Việt cổ đã bắt đầu nghĩ đến việc đắp bờ khoanh vùng giữ nước và chống ngập trong mùa lũ.

Khi dân số phát triển và sống tập trung thì diện tích gieo cấy và cư trú càng phải mở rộng xuống những vùng đất lớn hơn nhưng trũng thấp hơn thì những bờ vùng bờ thửa thấp, nhỏ không còn đủ sức đáp ứng những yêu cầu về ngăn nước lũ hàng năm nên những bờ vùng cũng phải được mở rộng và đắp cao thêm, từ đây những con đê đầu tiên được hình thành. Theo thời gian, cùng với kinh nghiệm chống lũ tích lũy trong quá trình sản xuất, các tuyến đê ngày càng được tôn cao, mở rộng, nối dài thêm. Nhu cầu về trị thủy, hiểu theo nghĩa cụ thể ở đây là việc đắp những con đê khoanh vùng tương đối quy mô mà những thư tịch cổ của Trung Quốc thường nói tới. Vào khoảng vài ba thế kỷ trước và đầu công nguyên, nhiều người Trung Quốc đến nước ta đã tận mắt nhìn thấy những con đê khoanh vùng quy mô.

Giao Châu ký chép: “Huyện 7 Phong Khê đã có đê để phòng nước sông Long Môn (sông Đà)” [5]. Hán thư, Quận huyện chí chép: “Phía Tây Bắc huyện Long Biên quận Giao Chỉ đã có đê để giữ nước sông” là những bằng chứng về đê điều cổ ở nước ta. Vào buổi đầu Công nguyên, sau khi chiếm được nước ta, Cao Biền cho đắp đê bao quanh thành Đại La.125 trượng 8 thước (khoảng 8.500m), cao 1 trượng 5 thước (khoảng 6m), việc đóng lỵ sở đô hộ của phong kiến Trung Hoa tại Thành Luy Lâu (ngày nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) chắc chắn không thể thực hiện được nếu như không có đê, bởi những vùng đất thấp như vậy trong điều kiện tự nhiên của lũ sông Hồng hằng năm sẽ thường xuyên bị ngập vài ba mét trở lên trong vòng 1 đến 2 tháng trong năm [6]. Trong thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta đã đắp đê nhưng kỹ thuật thô sơ, hầu hết các con đê còn nhỏ và thấp.

Đến thế kỷ IX, đã có những con đê có chân đê rộng (khoảng 8m). Sau khi Ngô Quyền dẹp tan quân Nam Hán (năm 938), xây dựng nền tự chủ, trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê sử cũ không có ghi chép gì về đê điều trị thủy, những triều đại này đều ngắn ngủi và đầy biến động, nên nhiệm vụ củng cố nền độc lập, giữ vững sự thống nhất đất nước là nhiệm vụ hàng đầu. Tuy nhiên, công cuộc trị thủy chắc chắn cũng không vượt khỏi khuôn khổ đắp đê khoanh vùng do nhân dân địa phương tự tổ chức như trước đây. Hiện tại, tổng chiều dài hệ thống đê sông trong vùng đồng bằng sông Hồng là 3.417km đê thuộc Bắc Bộ, và 420km ở các sông vùng Thanh - Nghệ [7].

Hệ thống sông Hồng có 1.667km đê và 750km đê thuộc hệ thống sông Thái Bình. Hệ thống đê sông Hồng có quy mô lớn và hoàn thiện hơn so với các hệ thống đê còn lại. Các đê sông thường có độ cao không quá 10m [8]. Chiều cao trung bình của đê sông từ 6÷8m.

Tuy nhiên, hệ thống đê được xây dựng đã lâu đời trên nền đất yếu, đất đắp đê cũng lấy từ địa phương và không đồng nhất. Nhiều kè cống rất cũ kỹ. Dọc theo đê còn có nhiều ao, hồ làm nước lũ khó thoát. Dân cư quá đông đúc sống kề cận bờ đê.

Ngày nay, nhiều nhà cửa xây cất sát ngay trên bờ đê.4 Các đê sông trong vùng đồng bằng sông Hồng (nguồn: internet) Từ nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của đê sông đồng bằng sông Hồng, ta có thể rút ra những đặc điểm đê sông như sau: - Hệ thống đê sông đồng bằng sông Hồng được hình thành là một quá trình dài hàng trăm năm do nhiều thời đại và các thế hệ xây dựng nên. Mỗi thời đại có những quan niệm và cách quản lý khác nhau nhưng quy tập lại là xây dựng một hệ thống đê điều để bảo vệ vùng canh tác và các khu dân cư; - Các tuyến đê và mặt cắt đê được hình thành một cách gần như tự phát, không được quy hoạch, thiết kế trừ sau ngày cách mạng tháng Tám thành công. Các tuyến đê hầu hết dựa vào các đường liên thông xã, các cồn cao tự nhiên, các dải đất cao,. rồi đắp nối liền thành hệ thống đê; - Mặt cắt đê được bồi trúc dần từ thấp lên cao, không được đầm nén kỹ, phần lớn là thi công bằng thủ công, trong thân đê còn nhiều tạp chất hữu cơ, nhiều nơi có mối làm tổ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ổn định; 9 - Đặc điểm các dạng địa hình đặc biệt: hoạt động của sông Hồng và các sông nhánh làm thay đổi đáng kể địa hình vùng ven sông.

Việc chuyển dòng, tạo dòng mới thường theo một quy luật phức tạp, sông Hồng có sự biến đổi dòng rất mạnh. Qua nghiên cứu thấy sự dịch chuyển có tính chất chu kỳ qua lại [9].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Kết cấu mặt đê chống lũ kết hợp giao thông hiệu quả là một nghiên cứu chuyên sâu về việc thiết kế và xây dựng các công trình đê chống lũ, đồng thời tích hợp chức năng giao thông để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng. Nghiên cứu này không chỉ đưa ra các giải pháp kỹ thuật tiên tiến mà còn phân tích tính khả thi và lợi ích kinh tế-xã hội của việc kết hợp hai chức năng này. Đây là tài liệu hữu ích cho các kỹ sư, nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực quản lý thiên tai và phát triển cơ sở hạ tầng.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ kỹ thuật chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu khả năng hóa lỏng của đất nền đê hữu hồng đoạn qua hà nội k73 500k74 100 chịu tải trọng động đất, nghiên cứu về ổn định đê trong điều kiện động đất. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề xuất cơ sở khoa học để quyết định đầu tư dự án xử lý sạt lở bờ sông mỹ khánh tp cần thơ cung cấp góc nhìn về quản lý rủi ro sạt lở, một vấn đề thường đi kèm với lũ lụt. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp thiết kế kênh thoát lũ châu bình quỳ châu nghệ an là tài liệu bổ trợ về thiết kế hệ thống thoát lũ hiệu quả. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các khía cạnh liên quan đến quản lý lũ lụt và cơ sở hạ tầng.