Tổng quan về luận án
Công cuộc cận đại hóa ở khu vực Đông Á nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX diễn ra trong một bối cảnh lịch sử đầy biến động, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển mạnh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang tư bản độc quyền, gia tăng áp lực bành trướng thuộc địa và phân chia lại thị trường toàn cầu. Đứng trước họa ngoại xâm và khủng hoảng nội tại sâu sắc của chế độ phong kiến, các quốc gia phương Đông buộc phải lựa chọn con đường phản ứng để tự cường và bảo vệ chủ quyền. Trong khi các phong trào đấu tranh vũ trang đơn thuần dần bộc lộ sự bất cập trước ưu thế quân sự phương Tây, con đường cải cách xã hội theo hướng dân chủ tư sản nổi lên như một xu thế mang tính quy luật lịch sử.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Thế giới (Mã số: 9.11) của nghiên cứu sinh Phạm Thị Phượng Linh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Tiến Lực tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2022), với đề tài "Lực lượng tham gia phong trào cải cách ở các nước Đông Á (nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)", đã mở ra một hướng tiếp cận tiên phong. Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi mà công trình định vị nằm ở việc: trong khi phần lớn các công trình sử học tiền nhiệm tập trung chủ yếu vào việc tái hiện biên niên sự kiện, nội dung văn bản pháp lý hoặc diễn biến ngoại giao của Minh Trị duy tân (1868–1912) và Biến pháp Mậu Tuất (1898), thì vấn đề cấu trúc chủ thể và mối tương quan động lực học giữa các lực lượng tham gia cải cách vẫn bị phân mảnh và thiếu vắng một khung phân tích so sánh liên quốc gia mang tính hệ thống.
Để giải quyết khoảng trống học thuật này, luận án xác lập ba câu hỏi nghiên cứu trung tâm:
- Bản chất lý luận của "lực lượng cải cách" trong mối quan hệ biện chứng giữa cải cách xã hội và cách mạng xã hội là gì?
- Cơ cấu, nguồn gốc giai cấp, động cơ chính trị và hành vi thực tế của lực lượng khởi xướng - lãnh đạo, lực lượng ủng hộ và lực lượng chống đối cải cách ở Nhật Bản và Trung Quốc đã định hình như thế nào dưới tác động của các nhân tố đối ngoại, chính trị, kinh tế và tư tưởng?
- Những điểm tương đồng và dị biệt mang tính quyết định trong tương quan lực lượng chính trị giữa hai quốc gia đã dẫn tới sự phân hóa kết cục lịch sử ra sao: thành công vượt bậc của Nhật Bản trong việc giữ vững độc lập và hiện đại hóa đối lập với sự đổ vỡ nhanh chóng của cuộc Bách nhật duy tân tại Trung Quốc?
Song hành với đó là hệ thống giả thuyết nghiên cứu:
- H1: Thành bại của công cuộc cải cách xã hội "từ trên xuống" không thuần túy phụ thuộc vào tính tiến bộ của nội dung cải cách mà mang tính quyết định bởi quyền lực nhà nước thực tế và tính chính danh chính trị của lực lượng lãnh đạo.
- H2: Sự liên minh chặt chẽ giữa tầng lớp võ sĩ cấp tiến (samurai/shishi) nắm giữ thực quyền quân sự - hành chính tại các phiên Tây Nam với biểu tượng quyền uy tối cao của Thiên hoàng là điều kiện tiên quyết cho sự bền vững của công cuộc Duy tân Minh Trị.
- H3: Sự thất bại của Biến pháp Mậu Tuất bắt nguồn từ sự cô lập về mặt quyền lực thực tế của nhóm trí thức Nho sĩ duy tân cùng vị thế hoàng quyền bù nhìn của vua Quang Tự trước sự áp đảo tuyệt đối về mặt thể chế và quân đội của phe thủ cựu do Từ Hi Thái hậu đứng đầu.
Khung lý thuyết của công trình được xây dựng trên sự tích hợp giữa chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, lý thuyết xã hội học chính trị về tính chính danh quyền lực của Max Weber, và lý thuyết về giới tinh hoa chính trị (political elites) của C. Wright Mills. Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung sâu vào trục so sánh trực diện giữa Nhật Bản và Trung Quốc trong khung thời gian từ thập niên 1850 đến đầu thế kỷ XX, đồng thời mở rộng tọa độ tham chiếu không gian sang các trường hợp điển hình khác tại khu vực như Xiêm (Thái Lan) và Việt Nam.
Literature Review và Positioning
Bức tranh học thuật về lịch sử cận đại Đông Á đã ghi nhận hàng loạt công trình nghiên cứu quy mô. Trong nước, nhóm các công trình nghiên cứu nền tảng về lịch sử Nhật Bản và Trung Quốc bao gồm Nhật Bản Duy tân 30 năm (1936) của Đào Trinh Nhất, Nhật Bản cận đại (1991) của Vĩnh Sính, các nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế - xã hội thời kỳ Tokugawa của Nguyễn Văn Kim (1999, 2000, 2019), cùng các công trình nghiên cứu về Duy tân thập kiệt và ảnh hưởng của Minh Trị duy tân của Nguyễn Tiến Lực (2010, 2013, 2018). Về lịch sử Trung Quốc, các tác phẩm của Nguyễn Huy Quý (2004) và Đào Duy Đạt (2018) đã khắc họa tiến trình cận đại hóa qua phong trào Dương Vụ và Biến pháp Mậu Tuất. Đặc biệt, công trình tập thể Phong trào cải cách ở một số nước Đông Á giữa thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX (2007) do Vũ Dương Ninh chủ biên đã phác họa bốn nhóm nhân tố con người tham gia cải cách nhưng mới dừng lại ở mức độ khảo sát độc lập từng quốc gia.
Trên bình diện quốc tế, dòng nghiên cứu tổng thể lịch sử cận đại Nhật Bản và Trung Quốc được phát triển rực rỡ qua bộ The Cambridge History of Japan (Volume 5: The Nineteenth Century) do Marius B. Jansen biên tập (2011) và The Cambridge History of China (Volume 11: Late Ch'ing 1800–1911) của John K. Fairbank và Kwang-Ching Liu (1988). Các nhà nghiên cứu như W.G. Beasley (1963), George Sansom (1969, 1989), Andrew Gordon (2003), John W. Dower, Chie Nakane và Shinzaburo Oishi (1990), cùng công trình của Banno Junji và Ohno Ken-ichi (2021) đã cung cấp nguồn tư liệu dồi dào về bối cảnh kinh tế - xã hội thời kỳ Edo và cấu trúc liên kết phiên bang Tây Nam. Ở chiều hướng nghiên cứu về Trung Quốc, các tác phẩm của John King Fairbank (1988), Jack Gray (1990), Immanuel C.Y. Hsü (1970), Gilbert Rozman (1981) và Peter Zarrow (2012) tập trung phân tích sâu sắc các chấn động chính trị từ Chiến tranh Thuốc phiện đến Cách mạng Tân Hợi 1911.
Tuy nhiên, trong y giới học thuật vẫn tồn tại những tranh luận quyết liệt về bản chất của các cuộc cải cách Đông Á. Đối với Minh Trị duy tân, tồn tại sự đối lập giữa bốn trường phái lý giải:
- Trường phái "Vương chính phục cổ" coi đây là cuộc tái lập quyền lực chuyên chế cổ truyền của Thiên hoàng.
- Trường phái Mác-xít coi đây là một cuộc cách mạng tư sản không triệt để khi tầng lớp quý tộc phong kiến tư sản hóa vẫn nắm giữ bộ máy cai trị.
- Trường phái lịch sử hiện đại coi đây là một chuỗi các cuộc cải cách hành chính - kinh tế thực dụng từ trên xuống.
- Trường phái dung hợp xem đây là một hiện tượng lịch sử kép: vừa mang tính cách mạng về cấu trúc thể chế kinh tế - xã hội, vừa mang tính cải cách về mặt phương thức vận hành quyền lực chính trị.
Luận án của NCS. Phạm Thị Phượng Linh định vị bản thân ở vị trí giải quyết tranh biện học thuật trên bằng việc chuyển dịch trọng tâm từ mô tả tiến trình sang phân tích cấu trúc lực lượng. So với hai nghiên cứu quốc tế điển hình là công trình của Chih-Yu Liao (University of Canterbury, 2006) về so sánh tư tưởng "Phú quốc cường binh" và nghiên cứu của Weng Ching-hsi (University of Hong Kong, 1966) về phong trào 1898, luận án đã tiến xa hơn khi xây dựng một mô hình tam phân cấu trúc chủ thể (lãnh đạo – ủng hộ – chống đối) được soi chiếu dưới cả hai trục đồng đại và lịch đại, đồng thời đối sánh với các trường hợp cải cách của vua Rama V (Chulalongkorn) tại Xiêm và phong trào canh tân bất thành của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ tại Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp quan trọng vào việc làm sâu sắc và chuẩn hóa khái niệm "Lực lượng tham gia cải cách" trong khoa học lịch sử và chính trị học. Dựa trên việc kế thừa và phát triển quan điểm kinh điển của V.I. Lenin về mối quan hệ giữa cải cách và cách mạng:
“Không nghi ngờ gì cả, khái niệm cải cách đối lập với khái niệm cách mạng, nếu quên sự đối lập đó, thì sẽ luôn luôn mắc phải những sai lầm hết sức nghiêm trọng trong tất cả những lập luận về vấn đề lịch sử. Nhưng sự đối lập đó không phải là tuyệt đối, cái ranh giới đó không phải là cứng nhắc, đó là một ranh giới sinh động, linh hoạt mà ta phải biết xác định trong từng trường hợp cụ thể” (Lenin, Toàn tập, tập 20).
Luận án khẳng định rằng: Cải cách xã hội là một chương trình kinh tế - chính trị do giai cấp cầm quyền bên trên chủ động tiến hành nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất lượng phát triển nhưng không làm thay đổi bản chất nhà nước; trong khi cách mạng xã hội là đỉnh cao của đấu tranh giai cấp từ dưới lên nhằm lật đổ toàn bộ chế độ cũ và thiết lập chính quyền của giai cấp tiến bộ hơn. Dẫn chiếu phân tích từ Karl Kautsky trong tác phẩm Cách mạng xã hội:
“Cải cách khác cách mạng ở chỗ nó duy trì chính quyền của giai cấp bọn áp bức là bọn vẫn trấn áp cuộc khởi nghĩa của những người bị áp bức bằng những sự nhượng bộ có thể chấp nhận được đối với bọn áp bức, mà không thủ tiêu chính quyền của chúng” (Dẫn theo Lenin, Toàn tập, tập 15).
Từ đó, luận án thiết lập mệnh đề lý thuyết: Tính quyết định sự thành bại của một chương trình cải cách không nằm ở số lượng quần chúng tham gia mà nằm ở thực quyền của lực lượng lãnh đạo và mức độ dung hòa lợi ích của liên minh cầm quyền.
Bên cạnh đó, luận án vận dụng sáng tạo lý thuyết ba dạng thức chính danh quyền lực của Max Weber (Truyền thống, Sức lôi cuốn cá nhân, và Pháp lý - duy lý) để giải mã sự khác biệt căn bản giữa Thiên hoàng Minh Trị và Hoàng đế Mãn Thanh. Tại Nhật Bản, Thiên hoàng sở hữu tính chính danh kép: vừa là cội nguồn truyền thống thần thánh hóa bất biến qua hàng nghìn năm (vạn thế nhất hệ), vừa là biểu tượng duy nhất của sự đoàn kết dân tộc trước nguy cơ ngoại xâm. Ngược lại, nhà Thanh mang tính chính danh khiếm khuyết trong mắt đa số người Hán do xuất thân tộc người thiểu số Nữ Chân:
“Một tộc người du mục nhỏ khoảng một triệu người đã thu phục được một quốc gia hàng trăm triệu người và cai trị trong 250 năm... Những dấu hiệu (bắt người Hán để tóc đuôi sam) phân biệt người cai trị với kẻ bị trị - một cái gai trong mắt người Trung Hoa” (David Landes, 2020).
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp ba dòng lý thuyết chủ đạo:
- Lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội và đấu tranh giai cấp (Mác - Lênin): Phân tích sự mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời và lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa đang manh nha (thông qua sự phát triển của kinh tế hàng hóa, thương nhân chonin và sự phá sản của tầng lớp samurai tại Nhật).
- Lý thuyết Xã hội học Chính trị về Quyền lực và Thống trị (Max Weber): Đánh giá cấu trúc quyền lực nhà nước, bộ máy quan liêu và tính chính danh trong việc thực thi cưỡng chế pháp lý.
- Lý thuyết Giới Tinh hoa Chính trị (Elite Theory - C. Wright Mills, Nguyễn Hữu Khiển): Khảo sát mạng lưới các nhà kỹ trị và tinh hoa lãnh đạo xuất thân từ các võ sĩ cấp tiến (Kido Takayoshi, Okubo Toshimichi, Saigo Takamori, Ito Hirobumi) trong việc định hình các quyết sách chiến lược.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích này được xác định rõ: Khung lý thuyết áp dụng tối ưu cho các quốc gia phương Đông trong thời kỳ chuyển tiếp cận đại mang tính "tiếp biến văn hóa cưỡng bức", nơi áp lực địa chính trị từ phương Tây đóng vai trò chất xúc tác thúc đẩy sự tái cấu trúc thể chế từ bên trong.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án tuân thủ lập trường bản thể luận và nhận thức luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ với phương pháp Phân tích Lịch sử So sánh (Comparative Historical Analysis - CHA) và thuyết Thực tại Phê phán (Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu là sự kết hợp đa tầng bậc (multi-level design):
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Đánh giá cấu trúc địa chính trị toàn cầu và sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào khu vực Đông Á.
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Khảo sát cấu trúc giai cấp, sự dịch chuyển của các tầng lớp xã hội (quý tộc cung đình, võ sĩ samurai, địa chủ, thương nhân, Nho sĩ, nông dân) và thiết chế quyền lực nhà nước (Bakuhan ở Nhật Bản và bộ máy chuyên chế tập quyền Mãn Thanh).
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Phân tích hành vi chính trị, phẩm chất lãnh đạo và tư tưởng của các cá nhân kiệt xuất (Thiên hoàng Meiji, Saigo Takamori, Okubo Toshimichi, Fukuzawa Yukichi, Shibusawa Eiichi đối sánh với Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục, vua Quang Tự và Từ Hi Thái hậu).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý tư liệu được thực hiện nghiêm cẩn thông qua kỹ thuật phê phán sử liệu (source criticism) gồm phê phán ngoại tại (xác thực văn bản) và phê phán nội tại (đánh giá độ tin cậy và thiên kiến của tác giả). Nguồn tư liệu gốc được khai thác đa ngữ bao gồm:
- Các văn bản tài liệu chính thức: Bộ tư liệu tiếng Anh dịch từ nguyên bản tiếng Nhật Japan - A Documentary History: The Late Tokugawa Period to the Present (David J. Lu, 1996); hai tập The Meiji Japan Through Contemporary Sources (1844–1889) do The Centre for East Asian Cultural Studies xuất bản tại Tokyo (1970); tuyển tập sắc lệnh hoàng gia Japan by the Japanese (Alfred Stead, 1904).
- Các văn kiện ngoại giao và hiệp ước: Treaties between the Empire of China and Foreign Powers của William Frederick Mayers.
- Tác phẩm, bút tích của chính các nhà duy tân: Khuyến học, Khái lược văn minh luận, Phúc ông tự truyện của Fukuzawa Yukichi; Vũ dạ đàm của Shibusawa Eiichi; Tiểu sử và tập diễn văn Lương Khải Siêu do Trần Huy Liệu dịch (1929).
Luận án thực hiện phương pháp tam giác đạc (triangulation) tư liệu bằng cách đối chiếu chéo giữa văn bản chính sử triều đình, hồi ký cá nhân của các nhân chứng lịch sử, và các công trình giải mã học thuật của các nhà Đông Á học hàng đầu thế giới nhằm triệt tiêu tối đa tính chủ quan.
Data và phân tích
Luận án áp dụng phương pháp Phân tích Nội dung Định tính (Qualitative Content Analysis) kết hợp lập bảng biểu đối sánh ma trận lịch sử. Dữ liệu lịch sử cụ thể được trích xuất và chuẩn hóa:
- Dữ liệu giáo dục - văn hóa: Tỷ lệ biết đọc biết viết thời kỳ Tokugawa đạt 30% dân số (trong đó nam giới đạt 45%, nữ giới đạt 15% - theo số liệu của Curtis Andressen), tạo nền tảng dân trí vượt trội cho việc tiếp nhận tư tưởng canh tân so với xã hội Trung Quốc đương thời.
- Dữ liệu kinh tế - quân sự: Số lượng các hiệp ước bất bình đẳng nhà Thanh phải ký kết từ Hiệp ước Nam Kinh (1842) đến Hiệp ước Tân Sửu (1901); số lượng du học sinh Trung Quốc sang Mỹ qua chương trình của Dung Hoằng và sự thất bại của các dự án hiện đại hóa công nghiệp do Từ Hi không thiết lập được nền tảng tài chính - thể chế bền vững.
- Dữ liệu thời gian và biến cố: Phong trào Bách nhật duy tân kéo dài vỏn vẹn 103 ngày (11/6/1898 – 21/9/1898) với hàng loạt sắc lệnh ban bố nhưng không thể đi vào đời sống thực tế do vấp phải sự kháng cự của hơn 90% quan lại thủ cựu trong triều đình và các tỉnh.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
-
Sự tương phản về tính chất và vị thế của lực lượng lãnh đạo:
Tại Nhật Bản, liên minh lãnh đạo cải cách bao gồm Thiên hoàng đứng đầu cùng tầng lớp võ sĩ cấp tiến thuộc các phiên Tây Nam (Satsuma, Choshu, Tosa, Hizen) và các công khanh triều đình (Iwakura Tomomi, Sanjo Sanetomi). Đây là lực lượng nắm giữ quyền lực thực tế, kiểm soát quân đội và công cụ hành chính sau khi lật đổ chính quyền Mạc phủ Tokugawa. Ngược lại, tại Trung Quốc, lực lượng khởi xướng là các Nho sĩ cấp tiến (Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu) tuy có tư tưởng tiến bộ nhưng không có quyền lực chính trị và quân sự trong tay; vua Quang Tự ủng hộ cải cách nhưng chỉ nắm giữ "hư danh", trong khi quyền lực tối cao chi phối triều chính và quân đội nằm trọn trong tay Từ Hi Thái hậu và phe thủ cựu.
-
Cơ chế chuyển hóa của tầng lớp tinh hoa quân sự:
Một phát hiện mang tính đột phá của luận án là việc chỉ ra sự chuyển hóa địa vị xã hội của tầng lớp samurai Nhật Bản. Thay vì bám giữ đặc quyền phong kiến, một bộ phận ưu tú của samurai đã chủ động từ bỏ đẳng cấp (thông qua chính sách Phế phiên lập huyện và Phế đao lệnh), tiếp thu tư tưởng phương Tây và chuyển hóa thành các chính khách kỹ trị, tướng lĩnh quân đội hiện đại và doanh nhân tư bản (điển hình như Shibusawa Eiichi). Ngược lại, tầng lớp quan lại Mãn - Hán và quý tộc Bát kỳ tại Trung Quốc kiên quyết bảo vệ đặc quyền phong kiến và bổng lộc dòng tộc, tạo thành bức tường thành phản kháng triệt để mọi nỗ lực biến pháp.
-
Cơ sở xã hội và lực lượng ủng hộ:
Ở Nhật Bản, phong trào duy tân nhận được sự đồng thuận và hậu thuẫn tài chính mạnh mẽ từ tầng lớp thương nhân thành thị (chonin), các phú nông và sự thức tỉnh của giới trí thức qua phong trào khai sáng của Fukuzawa Yukichi. Tại Trung Quốc, tư tưởng biến pháp chỉ lưu hành trong một nhóm nhỏ sĩ phu tiến bộ tại các đô thị lớn, hoàn toàn tách rời khỏi khối quần chúng nông dân mù chữ nghèo khổ và vấp phải sự kỳ thị của đa số giới thân sĩ Nho học truyền thống.
-
Sự giải quyết lực lượng chống đối cải cách:
Chính quyền Minh Trị đã thể hiện sự kiên quyết bằng việc sử dụng bạo lực cách mạng và quân đội hiện đại để dập tắt triệt để các cuộc nổi dậy vũ trang của sĩ tộc bảo thủ (tiêu biểu là việc bình định cuộc biến loạn Satsuma năm 1877 của Saigo Takamori khi ông thoái hóa tư tưởng). Ngược lại, lực lượng duy tân Trung Quốc hoàn toàn ngây thơ khi trông chờ vào sự ủng hộ của thế lực quân phiệt Viên Thế Khải, dẫn đến việc bị Viên phản bội và trao trọn quyền trấn áp cho Từ Hi Thái hậu, kết thúc bi thảm bằng cái chết của "Lục quân tử" (Đàm Tự Đồng, Dương Nhuệ, Lâm Húc, Lưu Quang Đệ, Khang Quảng Nhân, Dương Thâm Tú).
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận học thuật: Luận án đóng góp một mô hình phân tích cấu trúc chủ thể hoàn chỉnh cho lịch sử chuyển đổi thể chế phương Đông, chứng minh rằng sự thành công của cải cách đòi hỏi sự tích hợp hữu cơ giữa ý chí đổi mới của người đứng đầu, năng lực thực thi của đội ngũ kỹ trị tinh hoa, và sức mạnh cưỡng chế của bộ máy nhà nước.
- Về mặt phương pháp luận: Khẳng định tính ưu việt của phương pháp tiếp cận liên ngành (Sử học - Chính trị học - Xã hội học), cung cấp bộ công cụ heuristic để nghiên cứu các phong trào xã hội cận - hiện đại.
- Ý nghĩa thực tiễn cho công cuộc Đổi mới tại Việt Nam: Nghiên cứu rút ra bài học sâu sắc: Để tiến hành đổi mới và hiện đại hóa đất nước thành công, then chốt là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo tinh hoa, có tầm nhìn chiến lược, dám dấn thân và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; đồng thời phải tạo lập được sự đồng thuận xã hội rộng rãi, khơi dậy tinh thần tự lực tự cường và kiểm soát hiệu quả lực lượng bảo thủ, cản trở sự phát triển.
Limitations và Future Research
Mặc dù đạt được những kết quả học thuật xuất sắc, luận án vẫn tồn tại một số giới hạn:
- Giới hạn về nguồn ngữ liệu sơ cấp: Do điều kiện tiếp cận tư liệu thực địa, một số nguồn tư liệu thành văn cổ thời kỳ Edo bằng chữ Hán - Nôm cổ của Nhật Bản và các văn bản lưu trữ hoàng cung triều Thanh bằng tiếng Mãn chưa được khai thác trực tiếp toàn diện mà phải thông qua các bản dịch Anh ngữ và Hán ngữ hiện đại.
- Điều kiện biên về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giai đoạn bản lề nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, chưa bao quát sâu sắc giai đoạn thoái trào dẫn đến chủ nghĩa quân phiệt tại Nhật Bản thập niên 1930.
Hướng nghiên cứu tương lai được gợi mở:
- Mở rộng phân tích mạng lưới xã hội (Social Network Analysis) của các nhóm Nho sĩ Duy tân và các võ sĩ phiên bang bằng công cụ Nhân văn số (Digital Humanities).
- Mở rộng khung so sánh đa phương diện sang trường hợp cải cách của Đế chế Ottoman (Tanzimat) và cuộc Canh tân Giáp Ngọ (1894) tại Triều Tiên.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án của NCS. Phạm Thị Phượng Linh đã tạo ra những tác động học thuật và giáo dục rõ nét:
- Tác động học thuật: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Lịch sử Thế giới, Lịch sử Quan hệ Quốc tế và Đông phương học tại Việt Nam.
- Cải cách chương trình đào tạo: Bổ sung các luận điểm so sánh liên quốc gia vào giáo trình giảng dạy bậc đại học về lịch sử cận đại Nhật Bản và Trung Quốc.
- Giá trị tư vấn chính sách: Đóng góp luận cứ khoa học lịch sử cho các cơ quan hoạch định chiến lược về bài học huy động nguồn lực xã hội và tái cấu trúc bộ máy quản trị quốc gia trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một mô hình nghiên cứu so sánh mẫu mực và phương pháp luận liên ngành sắc bén.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu sử học: Sử dụng hệ thống tư liệu đã được đối chiếu, chuẩn hóa và các luận điểm khoa học có tính tranh biện cao.
- Nhà hoạch định chính sách: Rút ra các bài học lịch sử về quản trị sự thay đổi, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và cơ chế vượt qua các rào cản thể chế bảo thủ trong công cuộc Đổi mới đất nước.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và nó mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Luận án đã mở rộng lý thuyết xã hội học chính trị của Max Weber và lý luận Mác-xít về cải cách xã hội bằng việc xây dựng thành công định nghĩa chuẩn hóa và khung ma trận tam phân về "Lực lượng tham gia cải cách" (Lãnh đạo, Ủng hộ, Chống đối), chứng minh rằng tính chính danh truyền thống kết hợp với quyền lực cưỡng chế nhà nước là điều kiện bắt buộc để chuyển hóa tư tưởng cải cách thành hiện thực thể chế.
2. Đổi mới phương pháp luận của luận án thể hiện ra sao so với các nghiên cứu trước đây?
Trả lời: Khác với các công trình trước đây của Đào Duy Đạt (2018) hay Chih-Yu Liao (2006) vốn phân tích tiến trình lịch sử đơn tuyến, luận án sử dụng phương pháp so sánh đồng nhất và dị biệt (Comparative Historical Analysis) kết hợp tiếp cận liên ngành Chính trị học, đi sâu mổ xẻ cơ cấu giai cấp, động cơ quyền lực và hành vi chính trị của từng nhân vật và nhóm lực lượng tham gia.
3. Phát hiện bất ngờ và phản trực giác nhất từ dữ liệu lịch sử là gì?
Trả lời: Việc tầng lớp võ sĩ samurai Nhật Bản – một đẳng cấp quân sự phong kiến quý tộc vốn hưởng bổng lộc thế tập – lại tự nguyện và chủ động trở thành lực lượng tiên phong xóa bỏ chế độ phong kiến và đặc quyền của chính giai cấp mình để kiến tạo một nhà nước tư sản hiện đại, hoàn toàn trái ngược với thái độ bám giữ đặc quyền tuyệt vọng của giới quý tộc Mãn Thanh.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (replication protocol) không?
Trả lời: Có. Luận án minh bạch hóa toàn bộ hệ thống thư mục tài liệu gốc sơ cấp (từ các bộ sưu tập văn kiện của David J. Lu, Alfred Stead, The Centre for East Asian Cultural Studies), bộ tiêu chí phân loại lực lượng chính trị theo không gian - thời gian, và các bảng đối sánh ma trận sự kiện rõ ràng.
5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo từ công trình này là gì?
Trả lời: Phát triển hướng nghiên cứu so sánh liên khu vực rộng hơn (Đông Á - Trung Đông - Đông Âu), ứng dụng công nghệ Trắc lượng thư mục (Bibliometrics) và Xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) để phân tích toàn bộ văn bản tấu chương, sắc lệnh của phong trào Duy tân Minh Trị và Duy tân Mậu Tuất nhằm định lượng hóa sự chuyển dịch tư tưởng chính trị cận đại.
Kết luận
- Khẳng định cải cách xã hội nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tại Đông Á là sự lựa chọn mang tính quy luật lịch sử khách quan của các quốc gia nhằm tự cường trước làn sóng bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
- Xác lập khoa học khái niệm và cấu trúc "Lực lượng tham gia cải cách", chứng minh quyền lực nhà nước thực tế và tính chính danh là nhân tố trung tâm định đoạt kết quả cải cách.
- Giải mã toàn diện nguyên nhân thành công của Minh Trị duy tân bắt nguồn từ sự kết hợp hoàn hảo giữa quyền uy tối cao của Thiên hoàng và năng lực thực thi của tầng lớp võ sĩ cấp tiến các phiên Tây Nam cùng sự đồng thuận của khối tư sản - thương nhân.
- Làm sáng tỏ sự đổ vỡ của Biến pháp Mậu Tuất do sự cô lập của nhóm Nho sĩ cải cách, sự bất lực của vua Quang Tự trước quyền lực áp đảo của phe thủ cựu triều đình Mãn Thanh.
- Mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới trong nghiên cứu lịch sử thế giới cận đại tại Việt Nam, mang lại những bài học kinh nghiệm quý giá cho sự nghiệp Đổi mới và hiện đại hóa đất nước hôm nay.