CHƯƠNG 1 THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH 1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm, nguồn gốc của thuế thu nhập cá nhân. Thuế là một khoản nộp bắt buộc vào ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước1. Thông thường hệ thống thuế của một quốc gia có cấu trúc bởi ba nhóm thuế, bao gồm: thuế đánh trên thu nhập, thuế đánh trên tài sản và thuế đánh trên hành vi người tiêu dùng2, dựa trên đó mà các sắc thuế được thiết lập.
Thuế đánh trên tài sản như: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế đánh vào người tiêu dùng thường được sử dụng là thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… Đối với thuế thu nhập, hiện nay hầu hết các nước trên thế giới người sử dụng hai sắc thuế là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Các sắc thuế này thường phức tạp và khó thu nhưng nó được xem là sắc thuế bình đẳng bởi nó góp phần điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh cụ thể của người nộp thuế. Chính vì vậy, thuế TNCN là một loại thuế trực thu, thu vào thu nhập của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định3. Hay nói cách khác, thuế TNCN là khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách Nhà nước.
Thuế TNCN ra đời rất sớm, lần đầu tiên thuế TNCN được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, nước Anh áp dụng vào năm 1799, nước Pháp áp dụng vào năm 1808, nước Mỹ áp dụng thuế TNCN từ năm 1864. Tại các nước Châu Á: Nhật Bản áp dụng thuế TNCN vào cuối thuế kỉ XIX, Thái Lan áp dụng vào năm 1939, Phi- lip-pin áp dụng vào năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-si-a áp dụng vào năm 1949, Trung Quốc năm 1984, các nước Đông Âu mới áp dụng như: Ru-ma-ni vào năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 19924. Tại các quốc gia phát triển, thuế 1 Lê Thị Nguyệt Châu (2009), Giáo Trình Luật tài chính 2 (thuế), NXB Đại học Cần Thơ, trang 9, trang 11. 2 Lê Thị Nguyệt Châu (2009), Giáo Trình Luật tài chính 2 (thuế), NXB Đại học Cần Thơ, trang 9, trang 11.
3 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205. 4 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 TNCN đóng góp một nguồn thu khổng lồ vào ngân sách Nhà nước. Ví dụ: Ở nước Mỹ, Nhật, Canada, Úc, thuế TNCN chiếm 50% nguồn thu ngân sách Nhà nước từ thuế.
Ở các nước đang phát triển như Thái Lan, Malaixia, Phi-lip-pin chiếm từ 15% đến 30% nguồn thu ngân sách Nhà nước từ thuế5. Hiện nay trên giới có hai phương pháp đánh thuế TNCN: có nước tính thuế vào từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, có nước tính thuế trên tổng thu nhập của cả hộ gia đình: - Cách thứ nhất được áp dụng phổ biến ở các nước Anh, Nhật, Thụy Điển, các nước Châu Phi, Liên Xô, Hunggari, Tiệp Khắc… Ưu điểm của cách này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước, nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu cần phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả và đáp ứng được sự công bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều phụ thuộc. - Cách thứ hai áp dụng ở các nước Pháp, Hà Lan… các chuyên gia cho rằng cách này công bằng hơn về mặt đạo đức xã hội nhưng không kịp thời vì mỗi gia đình đều có ít nhất 2 người trở lên. Đã có nhiều người thì sẽ có nhiều khoản thu nhập khác nhau, do đó phải mở sổ sách kế toán, theo dõi từng nguồn thu nhập và phải đối chiếu với nơi phát sinh thu nhập, vì có nhiều phức tạp nên rất ít quốc gia áp dụng cách thứ hai6.
- Ở Việt Nam, trước năm 1975 ở miền Nam thì chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế TNCN nhưng với tên gọi là Thuế lợi tức lương bổng được ban hành vào năm 1962 và sau đó được cải cách vào năm 1972. Năm 1990, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Để cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có 6 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm: lần thứ nhất vào năm 1992, lần thứ 2 vào năm 1994, lần thứ ba vào năm 1997, 5 Nguyễn Thị Mỹ Linh (2009), Thuế Thực Hành, Nxb Thống kê, trang 262 6 Trang công ty Luật Minh Khuê, Kiến thức cơ bản về thuế thu nhập cá nhân, https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-phap-luat-thue/kien-thuc-co-ban-ve-thue-thu-nhap-ca-nhan. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 lần thứ tư vào năm 1999, lần thứ năm vào năm 2001 và lần thứ sáu là Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành năm 2004.
Do Pháp luật thuế TNCN của Việt Nam với tên gọi là Thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao nên phạm vi điều chỉnh hẹp và còn nhiều bất cập. Bên cạnh đó, cùng với quá trình hội nhập quốc tế hiện nay vấn đề đặt ra hành lang pháp lý chặt chẽ cũng như các biện pháp chế tài đủ mạnh và có tính thuyết phục để thuế TNCN được thực thi một cách có hiệu lực và hiệu quả. Với tính cấp thiết đó, Quốc hội đã thông qua Luật số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 và được sửa đổi bằng Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 đã điều chỉnh phù hợp hơn với các loại thuế thu nhập mà cá nhân có được, không phân biệt mức độ cao, thấp như trước. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân Chính vì thuế TNCN là một loại thuế trực thu, thu vào thu nhập của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định nên có những đặc điểm sau: Thứ nhất, thuế TNCN là một loại thuế trực thu nên luôn tạo cảm giác gánh nặng thuế cho người chịu thuế, hay nói theo một cách khác, người nộp thuế không thể chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác7.
Tính trực thu của thuế TNCN còn thể hiện ở chỗ, người nộp thuế cũng đồng thời là người chịu thuế, tức là Nhà nước sẽ trực tiếp đánh thuế vào thu nhập phát sinh của đối tượng nộp thuế, theo đó đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai và nộp thuế. Bên cạnh đó, thuế TNCN với tính trực thu thường đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của người nộp thuế bởi tính nhạy cảm và dễ gây ra phản ứng trong xã hội vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập bản thân, tình hình tài chính cũng như cuộc sống của gia đình của bản thân người nộp thuế. Vì vậy, việc điều tiết một phần TNCN không đơn giản, hơn nữa thuế TNCN được xem là một loại thuế khá phức tạp. Do đó, Nhà nước phải xác định mức thu hợp lý, phù hợp với khả năng đóng góp của người nộp thuế.
7 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Thứ hai, thuế TNCN có phạm vi đánh thuế rất rộng từ đối tượng chịu thuế đến người nộp thuế8. Cụ thể: Đối tượng chịu thuế bao gồm toàn bộ các khoản TNCN không phân biệt thu nhập có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ngoài nước. Đối tượng nộp thuế bao gồm tất cả các công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hoặc không thường xuyên tại nước sở tại.
Việc xác định đối tượng nộp thuế TNCN phụ thuộc vào phương pháp đánh thuế mà mỗi quốc gia áp dụng. Hiện nay, trên thế giới có hai phương thức đánh thuế TNCN phổ biến, đó là phương thức đánh thuế dựa trên tiêu chí “nơi cư trú” và “địa điểm phát sinh thu nhập”9. Theo phương thức đánh thuế trên cơ sở “địa điểm phát sinh thu nhập”, đối tượng nộp thuế TNCN là mọi cá nhân có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ của một quốc gia. Theo đó, cá nhân chỉ nộp thuế TNCN đối với khoản thu nhập chịu thuế phát sinh tại nước sở tại, còn đối với những khoản thu nhập phát sinh ở nước ngoài thì không phải nộp thuế.
Cách điều tiết thuế theo phương thức này thì không được phổ biến, nhưng nó lại tạo được sự hấp dẫn về thuế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, phương thức đánh thuế này chỉ thích hợp với những nước có nhiều nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn công dân nước có ít người làm việc hoặc đầu tư ở nước ngoài. Điển hình như Hồng Kông đây là nơi mà có số lượng khá lớn người nước ngoài đến làm việc và đầu tư10. Tuy cùng căn cứ vào tiêu chí “nơi cư trú” để đánh thuế nhưng mỗi quốc gia có định nghĩa khác nhau về khái niệm thế nào là một đối tượng cư trú tại một nước trong Luật thuế TNCN của nước mình.
Nhiều nước quy định cá nhân cư trú là người định cư ở nước đó hoặc là những người không sống thường xuyên nhưng có tổng số ngày cư trú là người định cư ở nước đó vượt qua 183 ngày trong một năm 8 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205. 9 Lê Nết (2007), “Thuế thu nhập cá nhân nên thu như thế nào?”, tạp chí nghiên cứu lập pháp, (07), trang 19. 10 Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh (2002), Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, NXB Tài Chính, trang 28. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 tính thuế (có thể là năm dương lịch hoặc là năm tài chính) hoặc trong khoản thời gian 12 tháng liên tục11.
Phương thức đánh thuế dựa vào “nơi cư trú” lại được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên trên thế giới. Theo phương thức này, các cá nhân cư trú ở một nước phải nộp thuế tại nước sở tại đối với thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ quốc gia đó, cá nhân không cư trú chỉ bị đánh thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại nước đó. Như vậy, cá nhân là đối tượng cư trú hay không cư trú nhưng có phát sinh thu nhập chịu thuế trong năm hoặc kỳ tính thuế đều là đối tượng phải nộp thuế TNCN. Ngoài ra, một số quốc gia lại có quy định một cách cụ thể hơn và có điểm khác biệt với định nghĩa nêu trên.