PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Tại Châu Á nhất là các đô thị lớn ô nhiễm không khí (ONKK) đang ngày càng gia tăng và trở nên nghiêm trọng (Brauer, 2012). Không khí tại các đô thị lớn của Việt Nam hiện nay chủ yếu là ô nhiễm bụi. Tại các điểm nóng giao thông, các công trình xây dựng nồng độ bụi rất cao gấp từ 5-6 lần tiêu chuẩn cho phép.
Hà Nội là thành phố lớn thứ hai của Việt Nam với dân số hơn 7,5 triệu người, đang đứng trong danh sách những thủ đô có tình trạng ONKK ở mức tồi tệ nhất khu vực Đông Nam Á và châu Á, theo các nghiên cứu của Hopke và Cohen và cộng sự trong năm 2008. Số liệu quan trắc tự động từ một số trạm ven đường của Hà Nội như trạm Nguyễn Văn Cừ, Láng Hạ cho thấy, nồng độ khí ozon có xu hướng tăng từ năm 2013 xấp xỉ ngưỡng QCVN 05:2013. Trong năm 2013, Hà Nội có tới 237 ngày chất lượng không khí kém, 21 ngày chất lượng không khí xấu và một ngày chất lượng không khí vào mức nguy hại. Tại các nút giao thông Kim Liên-Giải Phóng, Phùng Hưng - Hà Đông (Hà Nội) nồng độ bụi có lúc cao hơn 7 lần tiêu chuẩn cho phép.
Các loại khí độc hại và ô nhiễm khác (như CO, SO2, NOx) thì chưa đáng kể đều ở dưới tiêu chuẩn, nhưng đang có xu hướng tăng lên. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong quá trình hoạt động, các phương tiện giao thông thải lượng lớn các chất như: Bụi, CO, NOx, SOx, hơi xăng dầu, bụi chì, benzen… vào môi trường không khí. Lượng khí thải, bụi. gây ô nhiễm đang tăng lên hàng năm cùng với sự phát triển về số lượng các phương tiện giao thông đường bộ.
Cụ thể, nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng. tại các nút giao thông cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 5 lần; nồng độ khí CO, NO2 trung bình ngày ở một số nút giao thông lớn đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 - 1,5 lần. Các bệnh liên quan đến hô hấp là các bệnh điển hình từ ONKK đang được gia tăng trên địa bàn TP.
Hà Nội và có đến khoảng 72% hộ gia đình mắc bệnh, trong đó quận Hoàng Mai chiếm tỷ lệ cao nhất, 91,4%; thấp nhất là quận Tây Hồ 2 với 55% (Hung, 2013). Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây ra thiệt hại về kinh tế từ việc khám chữa bệnh đến việc gây hư hỏng tài sản vật chất do mưa axit, lớn hơn là góp phần vào sự biến đổi khí hậu của Trái Đất. Hàng ngày, chỉ cần một nửa số phương tiện trên hoạt động cũng đã xả ra môi trường một lượng lớn các khí độc hại, trong đó có nhiều thành phần gây nên hiệu ứng nhà kính, gây ra các loại bệnh như: Viêm nhiễm đường hô hấp do nhiễm vi khuẩn, hen suyễn, viêm phế quản mạn tính, viêm mũi. Đặc biệt, tiếng ồn phát sinh từ các hoạt động giao thông cũng đóng vai trò chủ yếu trong việc gây ô nhiễm.
Có 60 - 80% các nguyên nhân do tiếng ồn từ động cơ như: Do ống xả, do rung động các bộ phận xe, đóng cửa xe, còi xe, phanh xe, do sự tương tác giữa lốp xe và mặt đường. Tiếng ồn gây tác hại rất lớn đến toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan thính giác nói riêng. Tiếng ồn mạnh, thường xuyên gây nên bệnh đau đầu, chóng mặt, trạng thái tâm thần bất ổn, mệt mỏi… Gia tăng dân số cơ học và ách tắc giao thông là vẫn đề đang rất căng thẳng tại Hà Nội dẫn đến ô nhiễm MT và ô nhiễm không khí. Giao thông đang là một trong những tác nhân lớn nhất gây ra ONKK, bên cạnh các tác nhân khác như công nghiệp, xây dựng và sinh hoạt của người dân.
Thời gian qua, các bộ, ban ngành đã cùng nhau đưa ra nhiều giải pháp để giải quyết vấn nạn giao thông bằng cách đầu tư hàng ngàn tỷ đồng cho việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, một số biện pháp kiểm soát ô nhiễm không khí chung như: “Kiểm soát khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố”; “Áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với xe ô tô, xe mô tô 2 bánh sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới”; “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” … Song vẫn chưa góp phần cải thiện được tình hình giao thông nội đô và cải thiện chất lượng không khí. Ðể ứng phó với vấn đề này, tháng 06/2016 Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt “Kế hoạch hành động Quốc gia về Quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025”. Theo đó, Thành phố Hà Nội cũng đã triển khai các hành động thiết thực và kịp thời như đề xuất và thực hiện rất nhiều các đề án, dự thảo liên quan đến giao thông nội đô, lắp đặt 02 trạm quan trắc không khí vào ngày mùng 9 tháng 1 năm 3 2017; Chương trình trồng một triệu cây xanh: Hướng tới thành phố xanh, văn minh và hiện đại để xây dựng môi trường sống tốt nhất, người dân được sinh hoạt, giải trí với chất lượng cao. Qua 2 năm triển khai, bước đầu đạt được nhiều kết quả khích lệ, được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ; Thí điểm đầu tư phương tiện xe buýt sử dụng công nghệ khí CNG tại thành phố Hà Nội (xe buýt xanh); xây dựng các trạm rửa xe tự động tại các cửa ngõ ra vào nội thành Nghiên cứu này thực hiện việc điều tra trực tiếp nhận thức của người dân về thực trạng ONKK tại Hà Nội, từ đó ước lượng lợi ích của việc cải thiện chất lượng không khí thông qua phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) đối với khu vực dân cư sinh sống gần đường giao thông tại Hà Nội.
Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu Có rất nhiều biện pháp để cải thiện chất lượng không khí tại Hà Nội với nguồn thải từ phương tiện giao thông như thay đổi nhiên liệu, tiêu chuẩn phát thải với phương tiện, trồng cây xanh ven đường và tăng hệ thông mặt nước. Đối tượng của nghiên cứu là hoạt động cải thiện chất lượng không khí của thành phố Hà Nội cụ thể là việc Hà Nội đề ra và thực hiện các chương trình-kế hoạch-đề án về quản lý chất lượng không khí theo những mục tiêu và biện pháp của Kế hoạch hành động Quốc gia về Quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Từ đó, mục tiêu của Luận văn hướng tới nghiên cứu giá trị lợi ích kinh tế của hoạt động cải thiện chất lượng không khí tại Hà Nội. Các mục tiêu cụ thể như sau: - Tìm hiểu hiện trạng môi trường không khí của thành phố Hà Nội, từ đó phát hiện nhu cầu cải thiện chất lượng không khí tại các khu vực gần đường giao thông của Hà Nội - Ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân Hà Nội, sinh sống gần đường giao thông, cho việc cải thiện chất lượng không khí.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: 4 Tại một thành phố lớn như Hà Nội, nguồn phát thải từ giao thông là một trong những nguồn chính gây ONKK, vì vậy đã có nhiều đề xuất về giải pháp nhằm giảm phát thải từ phương tiện giao thông từ đó cải thiện chất lượng không khí. Hà Nội thì đã có nhiều đề xuất liên quan để giảm lượng phát thải từ nguồn này. Nghiên cứu này tập trung vào khu vực dân cư sinh sống gần đường giao thông tại Hà Nội để đo lường lợi ích của các hoạt động cải thiện CLKK tại Hà Nội thông qua mức sẵn lòng chi trả của người dân.
Phạm vi không gian được chọn là các hộ gia đình sinh sống tại các tuyến đường giao thông gần Trạm quan trắc không khí của Đại sứ quán Mỹ (7 Láng Hạ), 10 trạm quan trắc không khí của TP Hà Nội và các tuyến đường có mật độ giao thông đông đúc. Các tuyến đường đã được lựa chọn để phỏng vấn người dân sống xung quanh bao gồm: Láng Hạ, Đê La Thành, Giảng Võ, Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hồ Tùng Mậu, Pháp Vân-Giải phóng, Phùng Hưng - Về thời gian: Thời gian thực hiện phỏng vấn trong thời gian tháng 5 đến tháng 6 năm 2018. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp tổng quan tài liệu: - Tài liệu thứ cấp: Các nghiên cứu, Báo cáo đã có có liên quan đến Ô nhiễm không khí và cải thiện chất lượng không khí đã được nghiên cứu trước đó - Tài liệu sơ cấp: từ điều tra phỏng vấn trực tiếp người dân sống gần đường giao thông tại Hà Nội. Sử dụng phần mềm spss để phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả.
Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của chuyên gia kinh tế môi trường về các nghiên cứu có liên quan đến ô nhiễm không khí, hoạt động cải thiện chất lượng không khí tại Hà Nội, kinh nghiệm điều tra thực tế lấy ý kiến từ người dân và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên CVM trong quá trình phân tích kết quả điều tra. Phương pháp điều tra thực địa: Điều tra phỏng vấn trực tiếp các đối tượng thông qua bảng hỏi được lập phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Chọn mẫu 5 điều tra là 200 hộ gia đình sinh sống trên 8 tuyến đường giao thông gần 10 trạm quan trắc và các điểm nóng giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội Các bước thực hiện: Bước 1: Lập bảng hỏi sơ bộ và điều tra thử nghiệm 10 hộ gia đình sống gần đường giao thông tại Minh Khai, Hà Nội. Bước 2: Chỉnh sửa nội dung, đưa ra bảng hỏi chính thức Bước 3: Điều tra trực tiếp 200 hộ gia đình sống gần 08 tuyến đường giao thông đã chọn bằng bảng hỏi.
Tiếp cận 338 hộ gia đình và nhận được ý kiến trả lời từ 200 hộ gia đình, sau đó nhập dữ liệu và sử dụng spss để phân tích thống kê mô tả và hồi quy nhân tố ảnh hưởng. Cấu trúc của Luận văn Luận Văn được chia làm thành 3 chương chính: Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 2: Hiện trạng môi trường không khí Hà Nội Chương 3: Vận dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên đối với ước lượng giá trị kinh tế của việc cải thiện chất lượng không khí tại Hà Nội 6 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.