chương 1, bài viết sẽ trình bày cơ sở lý luận của việc phát triển dịch vụ TTQT tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Cụ thể là các vấn đề sau: Thứ nhất, trình bày tổng quát về TTQT của các ngân hàng thương mại; thứ hai, trình bày lý luận về việc phát triển dịch vụ TTQT của các ngân hàng thương mại. Lý luận chung về TTQT 1.Cơ sở hình thành hoạt động TTQ Mỗi quốc gia luôn có một điều kiện tự nhiên, địa lý và trình độ phát triển, phạm vi và năng lực sản xuất nhất định. Do đó, việc sản xuất ra những hàng hóa để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho nền kinh tế là có giới hạn.
Điều này đòi hỏi các nước phải luôn nhập những hàng hóa cần thiết từ các nước khác cho hoạt động sản xuất và tiêu dùng của nước mình. Đồng thời, các nước cũng xuất khẩu các hàng hóa dư thừa, có lợi thế so sánh từ nước mình sang nước khác nhằm phục vụ mục đích sản xuất và tiêu dùng của các nước khác. Từ đó thấy được các nước luôn có mối quan hệ khăng khít, phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng, dần hình thành nên hoạt động ngoại thương. Khi nền kinh tế phát triển, năng lực sản xuất hàng hóa ngày càng cải thiện, thì hoạt động ngoại thương càng diễn ra sôi nổi hơn.
Theo đó, các thương vụ hình thành giữa các bên: Bên mua, bên bán cùng các hợp đồng mua bán hàng hóa. Thương vụ kết thúc khi bên mua thanh toán, nhận hàng, bên bán giao hàng, nhận tiền theo các điều khoản đã ghi trong hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Trong thương vụ này, hai bên sẽ cùng nhau thỏa thuận các phương thức thanh toán như ứng trước, ghi sổ, chuyển tiền, nhờ thu hay tín dụng chứng từ, thông qua đó mà người mua trả tiền và người bán thu tiền. Người mua và người bán thường không thanh toán trực tiếp mà thông qua một bên trung gian khác là các ngân hàng.
Từ đó hình thành nên hoạt động TTQT trong các ngân hàng thương mại. Như vậy, hoạt động TTQT được hình thành từ hoạt động ngoại thương. Ngày nay, khi nói đến hoạt động ngoại thương là nói đến hoạt động TTQT và ngược lại, nói đến TTQT chủ yếu nói đến hoạt động ngoại thương, nhưng hoạt động ngoại thương là hoạt động cơ sở, còn hoạt đông TTQT là họat động phái sinh. Vì hoạt động TTQT được thực hiện qua hệ thống ngân hàng nên khi nói đến hoạt động TTQT là nói đến hoạt động TTQT của ngân hàng thương mại.
Bất kỳ ngân hàng nào cũng phát triển hoạt động của ngân hàng, trong đó luôn lấy hoạt động TTQT làm trọng tâm phát triển.Khái niệm TTQT 3 Đặng Thị Thu Hường – QTKDQT 50B GVHD: TS. Mai Thế Cường Ngày nay, đối với mỗi một quốc gia quan hệ kinh tế đối ngoại có vai trò quan trọng hàng đầu và là con đường tất yếu trong phát triển kinh tế. Hoạt động kinh tế đối ngoại là hoạt động trao đổi hàng hóa và tiền tệ giữa các chủ thể của các quốc gia khác nhau. TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại tài chíng, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức kinh tế, các hang, các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình họat động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng hình thức chuyển tiền hoặc các hình thức bù trừ trên tài khoản tại các ngân hàng.
TTQT hiểu theo nghĩa rộng bao gồm thanh toán các hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền ký kết giữa các nước, các hợp đồng mua bán ngoại thương, các phí dịch vụ (như phí vận tải, bảo hiểm…) TTQT có thể được chia thành hai loại: - Thanh toán mậu dịch: Là quan hệ thanh toán có liên quan trực tiếp, phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hóa và dịch vụ thương mại quốc tế. - Thanh toán phi mậu dịch: Là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hóa, không mang tính chất thương mại: Quan hệ về ngoại giao (như chi phí của các cơ quan ngoại giao tại nước sở tại), văn hóa, du lịch (chi phí vận chuyển và đi lại của các đoàn khách, chính phủ, tổ chức cá nhân…). Trong giao dịch ngoại thương, sự trao đổi hàng hóa và tiền tệ giữa các chủ thể thuộc 2 quốc gia khác nhau vượt ra ngoại phạm vi một quốc gia nên có sự khác nhau về quy chế mậu dịch, các điều kiện thương mại cũng như các tập quán thương mại. Vì vậy, một cơ chế thanh toám mang tính thống nhất và đảm bảo an toàn lợi ích cho cả người mua và ngừơi bán là vô cùng cần thiết.
Trong cơ chế thanh toán này, thông thường có một hên thứ ba độc lập làm trung gian thanh toán. Đó là các tổ chức tài chính trung gian (chủ yếu là các ngân hàng) có kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ, uy tín, khả năng tài chính, mạng lưới đại lý và quan hệ rộng… 1. Đặc điểm của TTQT Hoạt động TTQT có một số đặc điểm đó là: - TTQT khác thanh toán quốc nội là ở yếu tố ngoại quốc: Các bên tham gia, đồng tiền thanh toán. TTQT bao giờ cũng có sự tham gia của hai bên có quốc tịch khác nhau.
Và đồng tiền dùng trong TTQT luôn là ngoại tệ với một bên hoặc cả hai bên. Hai bên có thể thống nhất dùng đồng tiền của một trong hai nước làm đồng tiền thanh toán, cũng có thể chọn ra một đồng tiền chung ổn định hơn làm đồng tiền thanh toán. 4 Đặng Thị Thu Hường – QTKDQT 50B GVHD: TS. Mai Thế Cường - Chịu sự kiểm soát của chính sách ngoại hối, chính sách tỷ giá và chính sách hạn chế ngoại thương của chính phủ.
Họat động thương mại của các nước luôn bị chính phủ kiểm soát bằng các chính sách thương mại. Họat động thương mại quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến TTQT. Do đó, TTQT chịu ảnh hưởng từ các chính sách của chính phủ, đặc biệt là chính sách về tỷ giá, chính sách về ngoại hối, chính sách ngoại thương gây ra sự bất ổn trên thị trường tiền tệ, làm ảnh hưởng đến giá trị thương mại của các nước, nghĩa là giá trị xuất nhập khẩu giảm đi. Vì thế hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu cũng suy giảm theo.
Ngược lại, nếu chính sách thương mại ổn định sẽ kích thích hoạt động TTQT phát triển. - Hoạt động TTQT là một loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng nên có một số đặc điểm của dịch vụ: + Sản phẩm vô hình + Quá trình cung ứng và tiêu dùng diễn ra đồng thời + Không thể lưu trữ được Ngoài ra còn một số đặc điểm riêng: + Cung ứng dịch vụ qua biên giới quốc gia + Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài + Hình thành đại lý dịch vụ ở nước người tiêu thụ - Hoạt động TTQT chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn + Không gian: Hoạt động TTQT diễn ra thường xuyên và trên mọi vùng lãnh thổ + Cơ sở vật chất kỹ thuật: TTQT yêu cầu phải sử dụng công nghệ cao. Nếu cơ sở vật chất không đảm bảo thì hoạt động TTQT không thể diễn ra suôn sẻ được. + Môi trường pháp lý, tập quán: ở mỗi vùng lãnh thổ sẽ có những tập quán, những quy định riêng về TTQT.
Với những điều kiện nhất địn có thể kích thích sự phát triển của TTQT, nhưng cũng có thể kìm hãm sự phát triển. Và điều này thường khó nắm bắt cho nên nó luôn chứa đững những rủi ro không lường trước được. + Trình độ nhân lực: trình độ nhân lực có ảnh hưởng lớn đến hoạt động TTQT. Hoạt động này đòi hỏi cán bộ thanh toán phải có chuyên môn nghiệp vụ cao, có khả năng phân tích tốt để tư vấn cũng như thực hiện các nghiệp vụ về thanh toán.
Nếu cán bộ thanh toán không đủ chuyên môn thì không thể chọn được phương thức thanh toán phù hợp, và vì thế không đảm bảo được quyền lợi của các đối tượng tham gia TTQT. 5 Đặng Thị Thu Hường – QTKDQT 50B GVHD: TS. Mai Thế Cường Hệ thống phát triển TTQT ngày một hoàn thiện, thanh toán điện tử ngày càng có vị thế và dẫn thay thế cho TTQT bằng chứng từ truyền thống. Hiện nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển.
Theo đó, các hoạt động trên thế giới gắn liền với các phương tiện điện tử hơn. Hệ thống TTQT cũng dần được cải thiện. Việc thanh toán bằng các phương tiện điện tử đã thể hiện rõ ưu thể vượt trội hơn. Do đó, nó dần thay thế cho các phương tiện thanh toán chứng từ truyền thống.Đối với nền kinh tế quốc gia Hoạt động TTQT có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia.
Vai trò đó được thể hiện qua những mặt sau: Thứ nhất, TTQT bôi trơn và thúc đẩy hoạt động thương mại. Hiện nay quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra rất sâu sắc. Các quốc gia luôn phấn đấu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Các nước trên thế giới tìm cách phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, và hợp tác mạnh mẽ hơn.
Do đó hoạt động ngoại thương ngày càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Theo đó, hoạt động TTQT trở thành cầu nối giữa các quốc gia, các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Điều này làm bôi trơn và thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển. Thứ hai, TTQT bôi trơn và thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp.
Thứ ba, TTQT thúc đẩy phát triển hoạt động dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế. Việc hợp tác quốc tế đã thúc đẩy hoạt động TTQT phát triển. Đến luợt nó cũng thúc đẩy hoạt động hợp tác phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ kinh tế của các bên. Không những thế, TTQT còn thúc đẩy các hoạt động dịch vụ du lịch phát triển.
Giờ đây, khi đi du lịch người ta không phải quan tâm đến vấn đề thanh toán, vì đã có rất nhiều phương tiện thanh toán hiện đại như séc, thẻ thanh toán du lịch… Thứ tư, TTQT thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế. Thị trường tài chính quốc gia muốn hội nhập quốc tế thì bắt buộc phải có một số điều kiện như cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, hệ thống thanh toán nhanh đảm bảo việc kinh doanh chứng khoán trên thị trường tài chính quốc tế được diễn ra. TTQT phát triển cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia và thị trường tài chính quốc tế dễ dàng hơn. Đồng thời các chứng khoán của quốc gia cũng được bán trên thị trường tài chính quốc tế.