Chương I NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN 11. NHÂN CÁCH VÀ TÍNH QUILUẬT CỦA SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH 1. Nhân cách Tư tưởng về nhân cách đã được Arixtốt (384 - 322 TCN) - nhà triết học cổ Hy Lạp - bàn đến khi ông cho rằng, con người là một "động vật chính tri” (Joon poltikon). Ở đây, bước đầu Arixtốt đã thấy được vai trò của xã hội, của giáo dục đào tạo tác động đến sự phát triển của con người như là một nhân cách.
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên, hai nhà tâm lý học người Đức Dilthey và Spranger mới đưa ra khái niệm nhân cách. Theo các ông, nhân cách là cái mặt nạ có tính chất xã hội của cái tôi bên trong. Khi nào cái mặt nạ đó trùng với cái tôi thì nhân cách phát triển chín muồi”. Hiện nay, có nhiêu ngành khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều định nghĩa về nhân cách, có thể nêu một số định nghĩa tiêu biểu như: Bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật hay sinh vật hóa thuộc tính nhân cách.
Nhân cách được coi như bản năng tính dục (S.Freud); nhân cách coi là sự vô thức tập thể (kaal Jung); bản chất nhân cách là nhân tính con người. Nhân cách là động cơ tự động điều hành (G.Allport); nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ của cá nhân người; nhân cách được hiểu đồng nhất với khái niệm con người; nhân cách được hiểu như cá nhân con người với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức; nhân cách được hiểu là là một thuộc tính nào đó”. Đại biểu nổi tiếng nhất của chủ nghĩa Nhân bản triết học tu san thé ky XX 1a M.Selơ - một nhà triết học Đức cho rằng: "Bản chất vốn có của con người không gắn với tồn tại của nó về mặt sinh vật và xã hội mà nằm trong tỉnh thần của nó, trong khả năng của con người trở thành nhân cách". Theo quan niệm của ông, con người không tồn tại thực mà con người 5.
Lương Quỳnh Khuê: Văn hóa thẩm mỹ và nhân cách, Nxb Chính trị quốc gia, H. Nguyễn Ngọc Bích: Tâm lý học nhân cách, Nxb Đại học quốc gia, H. Chủ nghĩa xã hội và nhân cách, tập 1, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 23 13 chỉ là một bộ phận của thực tại tĩnh thân.
Nhìn chung, các học thuyết trên hoặc xem nhân cách như là sự đáp ứng nhu cầu sinh học thuần túy, hoặc xem nhân cách chỉ có tính chất thuần túy của cá nhân con người mà không thấy được tính quyết định của vai trò xã hội trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Triết học Mác ra đời đánh đấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Theo đánh giá của Lênin, triết học Mác đã khắc phục được hai thiếu sót lớn nhất của lịch sử triết học: Chủ nghĩa duy tâm "không thấy được" điểm xuất phát là hiện thực khách quan và chủ nghĩa duy vật siêu hình "không thấy được" vai trò tích cực của chủ thể cồn người. Chủ nghĩa Mác khẳng định: Con người là một thực thể sinh vật - xã hội.
Mặt sinh vật và mặt xã hội có mối quan hệ bao chứa lẫn nhau, chế ước lẫn nhau. Mặt sinh vật không thuần túy là sinh vật mà là sinh vật - xã hội. Mặt xã hội không trừu tượng, trống rỗng, hư vô mà nó là sự phản ánh hiện thực của tồn tại sinh vật - xã hội. Con người sinh ra và phát triển không chỉ tuân theo những qui luật sinh học mà nó còn chịu sự tác động của những qui luật xã hội.
Sự hoàn thiện bản chất xã hội trong mỗi con người cũng đồng thời là quá trình hoàn thiện nhân cách. Trong quá trình này, cái sinh vật ngày càng được xã hội hóa, nhân tính hóa nhiều hơn. Nhân cách được hình thành và phát triển trong quá trình sống, lao động và trong các quan hệ giao tiếp của con người. Tuy nhiên, trên lập trường triết học mácxít, giữa các nhà khoa học cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách, chẳng hạn: "Nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân thể hiện trong cá nhân, ngoài cá nhân, thông qua hoạt động giao tiếp của cá nhân ấy'°; "Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm tâm lý của cá nhân đã hình thành và phát triển từ trong các quan hệ xã hội"” hoặc khái niệm nhân cách được thể hiện là toàn bộ đời sống tỉnh thần và xã hội của con người bao gồm "tầng" xã hội và "tầng" tâm lý trong con người.
Khái niệm này cho phép hiểu bản chất người ở mỗi cá nhân, cái tư cách làm người của nó, cái phân biệt nó với các loài động vật. Có thể nhận thấy rằng, các quan điểm đó tập hợp thành hai khuynh hướng cơ bản: §. Nguyễn Ngọc Bích: Hổ Chí Minh - những vấn dé về tâm lý học, Viện Tâm lý học, H. Sayling: Công nghệ thông tin và nên giáo dục tương lai, Nxb Bưu điện, H.
80 14 Một là: Coi nhân cách như là đặc trưng, chức năng, vai trò, vị trí của con người trong xã hội. Hai là: Coi nhân cách là đặc trưng bản chất của con người. Chúng tôi thống nhất với khuynh hướng thứ hai coi nhân cách là đặc trưng bản chất của con người. Khi bàn về vấn đề con người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đặc biệt chú ý đến bản chất xã hội của con người, lý giải các quan hệ xã hội tham gia vào sự hình thành bản chất ấy cũng như vai trò của thực tiễn và hoạt động thực tiễn đối với sự bộc lộ những sức mạnh bản chất Người tới sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách.
Từ đó, triết học Mác - Lênin xem nhân cách là những phẩm chất, những trạng thái, tinh chất, xu hướng bên trong của từng cá nhân. Đó là thế giới của cái "tôi" do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội hết sức riêng biệt tạo nên để cá nhân đó có thể tồn lại và hoàn thành trách nhiệm của mình đối với bản thân và xã hột?. Với định nghĩa trên, khi nói đến nhân cách, rước hết là nói tới nhân cách của con người hiện thực, gắn liển với bản chất xã hội của nó, là sản phẩm của những hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nhân cách là kết quả của hoạt động người trong quá trình họ tiếp nhận sự giáo dục của xã hội và quá trình tự giáo dục của bản thân.
Quá trình này có ý nghĩa đặc biệt trong sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người. Trong sự phát triển nhân cách, các yếu tố sinh vật di truyền, tâm sinh lý là cơ sở tự nhiên mà trên cơ sở đó hình thành những đặc điểm lịch sử - xã hội của nhân cách. Thứ hai, nhân cách là nhân cách của từng cá nhân riêng biệt, cụ thể có mối quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên, xã hội xung quanh. Mỗi cá nhân mang nhân cách này vừa có khả năng tự đánh giá những hành vi của bản thân mình, vừa có khả năng đánh giá hành vi của cá nhân mang nhân cách khác.
Quá trình tự đánh giá và được đánh giá đó là quá trình cá nhân thực hiện những hành vi cho mình và cho người khác theo yêu cầu chung của xã hội. Nói cách khác, nhân cách là những phẩm chất bên trong của mỗi cá nhân trước những đòi hỏi của xã hội và của bản thân cá nhân để cá nhân đó 10. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, H.264 15 làm tròn trách nhiệm của mình với bản thân và với xã hội. Phẩm chất bên trong của mỗi con người là cơ sở để khẳng định giá trị của chính họ và có thể qui nhân cách của mỗi người vào những phẩm chất khác nhau.
Tuy nhiên, để trở thành con người có nhân cách, trước hết, cá nhân ấy phải có sự phát triển tương ứng với những trọng trách, nhiệm vụ được xã hội giao phó được biểu hiện cụ thể ở một số phẩm chất cơ bản trong cấu trúc của nhân cách. Căn cứ để xác định những phẩm chất chủ yếu của nhân cách, ta có thể xuất phát từ góc độ về sự định hướng của ý thức con người, hoặc từ góc độ vai trò xã hội hay vị trí, chức năng của họ trong hệ thống phân công lao động xã hội. ` Hiện nay có nhiều quan niệm về cấu trúc nhân cách, để phục vụ việc nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu quan niệm về cấu trúc của nhân cách mà quá trình hình thành và phát triển của các yếu tố cấu thành chịu nhiều sự tác động từ giáo dục - đào tạo. Đó là quan niệm cho rằng, cấu trúc nhân cách gôm hai một thống nhất với nhau là phẩm chất và năng lực.
Cấu trúc này theo Hồ Chí Minh chính là sự thống nhất giữa Đức và Tài trong mỗi nhân cách. Trong cấu trúc này, Đức được coi là thành phần đặc biệt của nhân cách. Tài là các năng lực thích ứng với xã hội của con người, là hiệu suất, hiệu quả trong một lĩnh vực hoạt động nào đó của họ. Có thể khái quát cấu trúc Đức - Tài như sau: Một là, mặt Đức được coi là "gốc", là cơ sở nền tảng cho sự hình thành và phát triển nhân cách được thể hiện ở những phẩm chất chủ yếu sau: - Phẩm chất xã hội bao gồm: thế giới quan, lập trường, thái độ chính trị - xã hội, thái độ lao động.
Sự phát triển cao của những phẩm chất này làm cho cá nhân luôn có những nhận thức và hành động đúng đắn, hợp lý trong những hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn khác nhau. Thuộc tính tổng hợp các yếu tố, các mặt của phẩm chất xã hội trong nhân cách là thế giới quan. Chỉ khi nào xác lập được thế giới quan thì mỗi người mới khẳng định được nhân cách của mình trong cuộc sống, mới có khả năng tự điều chỉnh mọi hành vị, thực hiện bản chất của mình. - Phẩm chất đạo đức cá nhân: Theo quan điểm triết học mác xít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tác, qui tắc, 16 chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội.
Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.