MỞ ĐẦU 1. Đặt vấnđề Việt nam là một nước nông nghiệp. Ngành nông nghiệp từ xưa tới nay vẫn đang chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong đó chăn nuôi chiếm một tỷ lệ khoảng 20-30% trong tổng thu nhập của nghành nông nghiệp.
Ngành chăn nuôi đã đem lại lợi nhuận kinh tế đáng kể cho đất nước đặc biệt là chăn nuôilợn. Theo thông tin chuyên nghành chăn nuôi Việt Namkết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 1/10/2017 đàn lợn cả nước 27,3 triệu con. Chăn nuôi lợn đang có xu hướng nuôi tập trung tại các trang trại nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm giá thành sản phẩm, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho người dân laođộng. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng cao không những về số lượng mà cả chất lượng củasảnphẩmphảiđảmbảovềchấtlượngdinhdưỡng,đặcbiệtlàphảiantoàn cho sức khỏe người tiêudùng.
Thịt lợn chiếm 75- 80% so với các loại thịt trong chăn nuôi. Để phát triển chăn nuôi lợn cần thực hiện tốt các khâu chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, đảm bảo lợn con sinh trưởng nhanh, khỏe mạnh và cung cấp con giống có chất lượng tốt cho chăn nuôi. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và giáo viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: "Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con, giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trang trại Lê Văn Tuấn xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương". Mục tiêu và yêu cầu của chuyênđề 1.
Mụctiêu - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Lê Văn Tuấn xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. - Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngàytuổi. - Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tạitrại. Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại Lê Văn Tuấn xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngàytuổi. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tạitrại. - Chăm chỉ, chịu khó học hỏi để nâng cao kiến thức tay nghề của bản thân. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất 2.1 Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý: Trang trại lợn nái Lê Văn Tuấn nằm trên địa bàn của xã Bình xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Quá trình thành lập và phát triển: Xã Bình Xuyên được thành lập ngày mùng 10 tháng 10 năm 1946. Về điều kiện tự nhiên: Xã Bình xuyên nằm ở phía Nam huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, xã có diện tích tự nhiên là 853,78 ha.
Toàn xã có 9 thôn với tổng dân số là 9.865 nhân khẩu, có 2656 hộ gia đình. Huyện Bình Giang nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Dương. Phía Bắc giáp huyện Cẩm Giàng, phía Nam giáp huyện Thanh Miện, phía Đông giáp huyện Gia Lộc, phía Tây giáp huyện Ân Thi và Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên. Huyện có quốc lộ 5A và đường sắt Hà Nội-Hải Phòng chảy qua.
- Khí hậu Bình Giang là huyện nằm gọn trong đồng bằng châu thổ sông Hồng, do phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp. Khí hậu mang đặc điểm chung của vùng đồng bằng Bắc Bộ, có đủ 4 mùa khá rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ trung bình hàng năm 24℃, các ngày nóng nhiệt độ có thể lên tới 38℃, ngày lạnh nhiệt độ thấp đến 6℃. Lượng mưa bình quân hàng năm 1.
Độ ẩm bình quân dao động từ 70 - 80%. Cơ sở vật chất của trại - Quá trình thành lập: Trang trại đượcxây dựng từ năm 2007, do ông Lê Văn Tuấn làm chủ 4 trại, liên kết với Công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. - Cơ cấu tổ chức của trang trại bao gồm: 19 người + 1 chủ trại + 1 quản lý trại + 1 kỹ sư + 2 kỹ thuật điện + 11 công nhân + 3 sinh viên thực tập - Cơ sở vật chất của trang trại Cơ sở vật chất được chú trọng.
Đường giao thông đã được nâng cấp bê tông hóa, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. Trại lợn cách khu dân cư khoảng hơn 1km. Xung quanh trại có hàng rào bao bọc và có cổng vào. Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi khép kín.
Diện tích đất sử dụng của trại khoảng hơn 4 ha trong đó đất: Trồng cây ăn quả: bưởi, chanh, ổi… Ao, hồ chứa nước và nuôi cá. Xây dựng hệ thống xử lí nước thải. Khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Khu nhà sát trùng tự động, kho cám, kho thuốc.
Đất xây dựng khu chuồng bầu, chuồng đẻ,chuồng cách ly:Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng đông nam đảm bảo ấm về mùa đông, mát về mùa hè. Các chuồng đều được lắp đặt điện chiếu sáng. Có hệ thống vòi nước uống 5 tự động cho từng ô lợn nái và lợn con. Khu chuồng đẻ gồm 3 chuồng gần kề nhau được sắp xếp thành chuồng đẻ 1, chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3.
Mỗi chuồng có 60 ô, kíchthước 2,4m × 1,6m/ô. Hai bêntường có dãy cửa sổ lắp kín. Phía đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió. Mỗi chuồng đẻ gồm 2 ngăn, mỗi ngăn gồm 2 dãy và có một công nhân đứng chuồng phụ trách.
Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông còn sàn dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng. Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung sắt và đan bao tải cám đã được ngâm sát trùng. Mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ cho lợn con tập ăn. Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa và phun vôi, phun sát trùng để trống chuồng 1 tuần trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên.
Khu chuồngbầu gồm 4 dãy dành cho lợn nái mang thai là chuồng có diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau, lợn đực phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần khu vực lấy tinh, lợn nái cai sữa về được đưa về nơi chờ phối trong chuồng bầu nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra và lên giống. Một góc chuồng nái chửa là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, khu lấy tinh, cạnh khu lấy tinh có phòng nhỏ để kiểm tra tinh được gọi là phòng tinh. Phòng tinh được trang bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt kế,… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện. Đầu chuồng nái chửa có hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 8 quạt hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng, ngoài ra bên trong chuồng còn được trang bị 6 đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất.
Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn hậu bị mới nhập về để thay thế đàn và lợn nái loại thải. Vị trí chuồng nằm gần chuồng bầu thuận tiện cho việc vận chuyển lợn lên chuồng bầu khi đã đủ điều kiện phối giống. Khu chuồng cách ly được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm 6 ô lớn được trang bịkhá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn tự động bên trong các ô, khu bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối chuồng có 4 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi. Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải.
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, xe trở phân, xe trở lợn con, xe trở tấm đan, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi. Nguồn nước sử dụng cho chăn nuôi tại trại được lọc qua bể lọc và dẫn trực tiếp đến từng ô chuồng bằng vòi uống tự động, trước khi được đưa đến các vòi tự động nước được xử lý qua vôi. Trang trại lợn nái Lê Văn Tuấn là một trại quy mô công nghiệp nên hàng ngày sử dụng một khối lượng nước rất lớn để phục vụ chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại, đặc biệt về mùa nóng cần một lượng nước rất lớn để vận hành hoạt động của giàn mát. Nước dùng cho chăn nuôi được bơm từ lòng đất qua hệ thống bể lọc, đưa lên các bồn chứa nước ở độ cao, áp lực đủ mạnh tới các vòi nước tự động ở từng ô chuồng.
Bên cạnh đó, hệ thống bạt che, giàn mát, quạt thông gió được trang bị rất đầy đủ. Nguồn nước thải được thải ra các ao quanh trại, phân trong các khu chuồng thì được công nhân hót vào bao cuối mỗi buổi sáng và chiều trong ngày đổ ra khu nhà chứa phân để bán và một phần nhỏ để vun trồng vào các gốc cây. 7 Trước cửa vào mỗi chuồng đều có một chậu nước sát trùng để nhúng ủng của công nhân trước khi đi vào chuồng làm việc.