CHƯƠNG I NHỮNG NHẬN THỨC LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH KHU CÔNG NGHIỆP 1. Lý luận chung về Khu công nghiệp 1. Tổng quan về KCN 1. Sơ lược lịch sử hình thành KCN Khu công nghiệp đầu tiên trên Thế giới ra đời vào thế kỷ XIX (năm 1896) ở Trafford Park, thành phố Manchester, vương quốc Anh.
Vùng công nghiệp Clearing ở thành phố Chicago, bang Illinois bắt đầu hoạt động từ năm 1899 được coi là KCN đầu tiên ở nước Mỹ. Năm 1904, một KCN được thành lập ở thành phố Naples, Italia. Tính đến năm 1940, số KCN trên thế giới còn rất khiêm tốn và chỉ sau những năm 50 thì sự phát triển các KCN mới thực sự bắt đầu [Trần Văn Phùng, 2007]. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nước công nghiệp phát triển gặp phải những khó khăn gay gắt về nguồn nhân công giá rẻ ở trong nước và nguồn nguyên liệu cho công nghiệp vốn trước đây được tước đoạt một cách tự do từ các nước trước đây là thuộc địa.
Mặt khác, do trình độ công nghệ còn bị hạn chế, nền kĩ thuật tự động hoá chưa đủ sức giải quyết được những khó khăn này của các nước phát triển. Trong khi đó, các nước đang phát triển vừa mới thoát ra khỏi ách đô hộ thực dân của chủ nghĩa đế quốc lại rơi vào tình trạng khó khăn trong phát triển kinh tế, thất nghiệp gia tăng, thiếu vốn đầu tư và ngoại tệ để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, xây dựng nền kinh tế dân tộc. Ngoài ra, do thiếu vốn, thiếu kĩ thuật công nghệ tiên tiến, thiếu cán bộ quản lí và công nhân lành nghề có trình độ cao nên các nước đang phát triển khó có điều kiện kiến tạo đầy đủ ngay một lúc trên phạm vi cả nước những điều kiện và yếu tố để có được những sản phẩm công nghiệp chế tạo đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Ở đây có điểm gặp nhau về nhu cầu phát triển kinh tế của các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Sự thôi thúc tìm kiếm nguồn nhân công giá rẻ và nguyên liệu đã thúc đẩy các nước phát triển di chuyển các cơ sở sản xuất công nghiệp dùng nhiều lao động, tài nguyên ra nước ngoài, đến gần các nguồn lực đó. Còn các nước đang phát triển, thấy được lợi thế và hạn chế của mình, đã cố gắng tạo ra một môi trường kinh tế thích hợp để thu hút đầu tư từ bên ngoài nhằm giải quyết những bế tắc kinh tế của mình và thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. KCN đầu tiên ở châu Á được xây dựng ở Singapore vào năm 1951, ở Malaysia năm 1954, ở Ản Độ năm 1955. Hiện nay khu vực châu Á có trên 1000 KCN đang hoạt động [McCarthy D.
Như vậy trên Thế giới KCN đã có lịch sử phát triển trên 100 năm với những thành công và thất bại. Việt Nam là nước đi sau phải tích cực nghiên cứu để vận dụng một cách sáng tạo và có hiệu quả những kinh nghiệm của thế giới. Khái niệm KCN Theo Hiệp hội các Khu chế xuất Thế giới WEPZA, “khu chế xuất bao gồm tất cả các khu vực được Chính phủ các nước cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu công nghiệp tự do hoặc bất kì khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận ”. Định nghĩa này về cơ bản đồng nhất khu chế xuất với khu vực miễn thuế.
Theo Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc UNIDO, khu chế xuất là "khu vực được giới hạn về hành chính, có khi về địa lỷ, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập khẩu trang bị và sản phẩm nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Chế độ thuế quan được ban hành cùng với những qui định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài" [Trần Văn Phùng, 2007]. Khái niệm khu chế xuất bao hàm viêc thành lập các nhà máy hiện đại trong một khu công nghệp và một loạt những ưu đãi nhằm khuyến khích việc đầu tư của các nhà kinh doanh nước ngoài vào nước sở tại. Với định nghĩa hẹp nói trên của UNIDO, về bản chất hoạt động kinh tế khu chế xuất khác với khu mậu dịch tự do, cảng tự do.
Bởi hoạt động chính trong khu chế xuất là sản xuất công nghiệp, mặc dù trên thực tế các hoạt động kinh doanh cũng được thực hiện tại một số khu chế xuất [Trần Văn Phùng, 2007]. Tuy nhiên, khu chế xuất có nhiều hạn chế đối với các nhà đầu tư: do yêu cầu tăng xuất khẩu hàng hoá và nguồn thu ngoại tệ về cho đất nước, đồng thời phải bảo hộ nền sản xuất trong nước, nên các nước đều buộc xí nghiệp khu chế xuất phải xuất khẩu toàn bộ sản phẩm ra thị trường thế giới. Trong khi đó thị trường trong nước có dung lượng lớn, là thị trường tiềm năng nhưng các nhà đầu tư không được tiếp cận. Có thể thấy nguyên tắc trên của các khu chế xuất không còn thích hợp với quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế và nhu cầu đầu tư phát triển trong nước giai đoạn mới.
Vì vậy, để khắc phục những hạn chế trên đây của mô hình khu chế xuất cổ điển, nhiều nước đã chuyển sang phát triển mô hình kinh tế uyển chuyển, năng động hơn, trong đó thị trường trong nước được tính đến như một yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đó chính là khu công nghiệp tập trung. Tuỳ điều kiện từng nước mà Khu công nghiệp có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau. Nhưng tựu trung lại, hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển Khu công nghiệp, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về khu công nghiệp. - Định nghĩa 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở.
Khu công nghiệp theo quan niệm này về thực chất là khu hành chính - kinh tế đặc biệt như khu công nghiệp Batam Indonesia, các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu. - Định nghĩa 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Đi theo quan niệm này, ở một số nước như Malaysia, Indonesia đã hình thành nhiều khu công nghiệp với qui mô khác nhau [Lê Tuyển Cử, 2004]. Với hai định nghĩa như trên, KCN có tính mở hơn so với KCX.
Các doanh nghiệp hoạt động trong KCN có thể bán sản phẩm vào thị trường nội địa. Điều này đã làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư. Hơn nữa, trong các KCN còn có thể có cơ sở hạ tầng phục vụ người lao động, điều này giúp cải thiện đời sống người lao động, thu hút lao động cho các doanh nghiệp hoạt động trong KCN. Chúng tôi thấy định nghĩa thứ 2 phù hợp với trình độ quản lý của Việt Nam hiện nay nhất.
Phân loại KCN Các KCN rất đa dạng với những đặc điểm đặc thù riêng, các KCN có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Trên thế giới phân loại KCN theo một số tiêu chí sau: - Căn cứ vào đặc điểm hình thành và quản lý, KCN được chia thành khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. - Căn cứ vào quy mô KCN có thể chia thành khu công nghiệp nhỏ và lớn. Các KCN có diện tích dưới 1000 hecta được gọi là KCN nhỏ, thường được bao quanh bởi hàng rào.
Nhà đầu tư phải xây dựng nhà máy ở bên trong thì mới được hưởng ưu đãi. KCN nhỏ không có dân cư sinh sống, tuy nhiên vẫn có thể có ký túc xá cho công nhân. Các KCN lớn có dân cư sinh sống như Khu kinh tế đặc biệt ở Trung Quốc hay các thành phố mới. - Căn cứ vào đặc tính chuyên ngành: Có các loại như KCN nặng, KCN nhẹ, KCN thực phẩm, KCN hóa chất, khu Công nghệ cao.
Mục đích của việc này là giúp tạo cho các doanh nghiệp có cùng lĩnh vực hoạt động có những điều kiện về nguồn nguyên liệu, vận tải. tốt nhất và đặc biệt có cùng hệ thống xử lý chất thải. Ví dụ như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lĩnh vực có mức độ độc hại cao sẽ được tập trung vào một khu, như thế việc xử lý chất thải sẽ hiệu quả và tiết kiệm hơn rất nhiều. - Căn cứ vào hình thức sở hữu: chia ra KCN được xây dựng cơ sở hạ tầng và quản lý bởi chủ đầu tư trong nước hay chủ đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh trong nước và nước ngoài.
Như KCN Bắc Thăng Long- Hà Nội, KCN Nomura- Hải Phòng là do các chủ đầu tư Nhật Bản xây dựng cơ sở hạ tầng. Thường các khu này sẽ ưu tiên cho các doanh nghiệp đến từ đất nước của nước sở hữu KCN [Hiệp hội các KCX Thế giới, 2009]. Ngoài ra, các KCN còn được phân chia theo địa phương và vùng lãnh thổ. Vai trò của KCN đối với nền kinh tế, xã hội Sự hình thành và phát triển KCN gắn liền với mục tiêu của các nước thành lập KCN và của các nhà đầu tư nước ngoài.
Vai trò đối với các nhà đầu tư nước ngoài - Giảm chi phí sản xuất sản phẩm bằng cách tận dụng các yếu tố sản xuất rẻ ở các nước đang phát triển. Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế các nước phát triển, nhất là từ đầu những năm 60, đã vấp phải khó khăn về nguồn lao động ở các nước đó. Khi tại các nước này, nguồn nhân công tiền công thấp ngày càng khan hiếm, giá lao động, chi phí bảo hiểm xã hội ngày một tăng, đã thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia nhanh chóng quyết định chuyển các ngành công nghiệp có hàm lượng lao động sống cao sang các nước đang phát triển. Thêm vào đó, do giá đất ngày càng cao, sự phát triển của các ngành dùng nhiều nguyên liệu, công nghiệp tiêu chuẩn hóa như cơ khí chế tạo, sản xuất cấu kiện.
không đòi hỏi trình độ công nghệ cao tại các nước tư bản phát triển tỏ ra không còn hiệu quả do các khoản chi phí vận chuyển nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài ngày càng tăng, làm giảm khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới.