Tổng quan nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn đóng vai trò then chốt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỉnh Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.348,53 km² với 15 đơn vị hành chính và lực lượng lao động nông thôn chiếm tới 72,56% tổng lực lượng lao động toàn tỉnh. Tuy nhiên, tính đến năm 2016, toàn tỉnh vẫn còn 751.357 lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, chiếm 57% tổng số người trong độ tuổi lao động. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Mục tiêu cụ thể gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý công trong đào tạo nghề, phân tích thực trạng triển khai chính sách giai đoạn 2012 - 2016, xác định các điểm nghẽn quản lý và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi cho giai đoạn tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu bao quát 4 tiểu vùng kinh tế sinh thái (Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, U Minh Thượng và Biển đảo) trong khung thời gian 5 năm thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc đánh giá toàn diện các chỉ số thực thi: quy mô 55.034 lao động nông thôn được cấp chứng chỉ nghề, tỷ lệ lao động có việc làm đạt 84% và mức đóng góp vào việc nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh từ 27,6% năm 2012 lên 43% vào năm 2016. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị, giúp chính quyền địa phương hoàn thiện thể chế quản lý lao động việc làm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) và Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Management - NPM). Lý thuyết vốn con người chỉ rõ rằng đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề là phương thức trực tiếp nâng cao năng suất biên của lao động, gia tăng thu nhập cá nhân từ 1,5 đến 2 lần và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Trong khi đó, Lý thuyết Quản trị công mới định hướng chuyển đổi vai trò của cơ quan công quyền từ "trực tiếp cung ứng" sang "kiến tạo và điều tiết", nhấn mạnh tính phân cấp, hiệu quả chi tiêu công và cơ chế phối hợp ba bên giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Lao động nông thôn: Công dân từ đủ 15 tuổi trở lên sinh sống tại địa bàn nông thôn, có khả năng lao động và nhu cầu học nghề.
  2. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Quá trình truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp ngắn hạn (từ dưới 3 tháng đến dưới 1 năm) gắn với giải quyết việc làm tại chỗ hoặc chuyển đổi nghề nghiệp.
  3. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề: Sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực của bộ máy hành chính nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, quy hoạch, phân bổ nguồn lực tài chính và kiểm tra, giám sát nhằm tối ưu hóa chất lượng nguồn nhân lực.
  4. Cơ chế liên kết ba nhà: Mô hình phối hợp chia sẻ trách nhiệm và lợi ích giữa cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và người sử dụng lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết giai đoạn 2012 - 2016 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Kiên Giang, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê và các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua đợt khảo sát chọn mẫu với quy mô cỡ mẫu 500 phiếu, phân bổ đồng đều tại các huyện đại diện cho 4 tiểu vùng kinh tế như Hòn Đất, Châu Thành, An Minh và Phú Quốc. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm đối tượng: lao động nông nghiệp thuần túy, lao động thuộc diện thu hồi đất và đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 12,49% dân tộc Khmer toàn tỉnh).

Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn được áp dụng đồng bộ. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác mối quan hệ giữa chi phí ngân sách đào tạo và tỷ lệ giải quyết việc làm sau học nghề, đồng thời bóc tách các bất cập mang tính cấu trúc trong phân cấp quản lý hành chính tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và xử lý dữ liệu giai đoạn 2012 - 2016 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô đào tạo nghề cho lao động nông thôn đạt bước tiến vượt bậc nhưng cơ cấu trình độ còn mất cân đối nghiêm trọng. Trong 5 năm, toàn tỉnh đào tạo được 200.105 người, trong đó chương trình Đề án 1956 chiếm 55.034 người (tương đương 27,5%). Tuy nhiên, hình thức dạy nghề dưới 3 tháng chiếm tỷ trọng áp đảo với 161.756 học viên (chiếm 80,83%), sơ cấp nghề đạt 32.396 học viên (16,19%), trong khi trung cấp nghề chỉ có 3.824 học sinh (1,91%) và cao đẳng nghề đạt 2.129 sinh viên (1,06%).

Thứ hai, tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo tuy đạt con số ấn tượng 84% (46.230/55.034 lao động) nhưng chất lượng việc làm chưa thực sự bền vững. Cơ cấu giải quyết việc làm cho thấy: 40.346 lao động tự tạo việc làm (chiếm 87,27%), trong khi số lao động được doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp chỉ đạt 3.578 người (chiếm 7,74%), số được bao tiêu sản phẩm là 1.643 người (3,55%) và thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác là 663 người (1,44%).

Thứ ba, danh mục đào tạo chưa bám sát nhu cầu tái cơ cấu kinh tế của tỉnh. Mặc dù tỉnh đã ban hành danh mục 38 ngành nghề (10 nghề nông nghiệp và 28 nghề phi nông nghiệp), lao động tham gia chủ yếu vẫn tập trung vào các nghề truyền thống đơn giản như may mặc, đan đệm bàng, trồng lúa, nuôi tôm. Tỉnh đang thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực kỹ thuật cao phục vụ các khu công nghiệp tập trung như Thạnh Lộc hay cụm công nghiệp Vĩnh Hòa Hưng Nam.

Thứ tư, các mô hình đào tạo theo chuỗi giá trị mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội nhưng chậm được nhân rộng. Mô hình nuôi cá lồng bè tại Kiên Hải và Kiên Lương với hơn 800 lồng bè mang lại thu nhập bình quân 23 - 25 triệu đồng/bè/vụ; mô hình đan dây nhựa tại Rạch Giá, Gò Quao tạo thu nhập ổn định 2 - 3 triệu đồng/tháng cho hơn 2.000 lao động nông nhàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ việc công tác khảo sát, dự báo nhu cầu học nghề tại cấp cơ sở còn mang tính hình thức, hành chính hóa. Nhiều địa phương lập kế hoạch đào tạo dựa trên năng lực sẵn có của trung tâm dạy nghề thay vì dựa trên đơn đặt hàng của thị trường lao động.

Khi so sánh với thành phố Cần Thơ giai đoạn 2011 - 2015, Cần Thơ đã huy động 37 doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo và nâng tỷ trọng lao động công nghiệp - dịch vụ lên 73,94%. Trong khi đó, Kiên Giang mới chỉ kết nối được 3.578 lao động vào các doanh nghiệp công nghiệp. Tương tự, bài học từ Thái Lan và Hàn Quốc cho thấy tăng trưởng năng suất lao động từ 10% đến 13%/năm chỉ đạt được khi có sự tích hợp chặt chẽ giữa trường nghề và doanh nghiệp ngay từ khâu thiết kế giáo trình.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu, thực trạng này có thể được mô tả qua một biểu đồ cột phân tầng thể hiện sự chênh lệch sâu sắc giữa lao động tự tạo việc làm (87,27%) và lao động được doanh nghiệp tuyển dụng (7,74%). Đồng thời, một bảng phân tích đối sánh 2x2 giữa các nhóm ngành nghề đào tạo và nhu cầu tuyển dụng thực tế tại 4 tiểu vùng kinh tế sẽ làm rõ sự lệch pha giữa cung và cầu nhân lực, cung cấp cơ sở trực quan cho các nhà hoạch định chính sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực dự báo nhu cầu đào tạo. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh xây dựng cơ sở dữ liệu số về cung - cầu lao động nông thôn. Đặt mục tiêu 100% các lớp đào tạo nghề mở mới phải có hợp đồng cam kết tuyển dụng hoặc phương án tự tạo việc làm khả thi. Lộ trình thực hiện từ năm 2017 đến năm 2020.

Thứ hai, đổi mới cơ chế phân bổ tài chính công và xã hội hóa nguồn lực. Chuyển phương thức cấp phát ngân sách đào tạo nghề theo chỉ tiêu hành chính sang cơ chế đấu thầu, đặt hàng đào tạo gắn với đầu ra việc làm. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang ban hành chính sách ưu đãi thuế và quỹ đất nhằm khuyến khích ít nhất 50 doanh nghiệp tham gia liên kết đào tạo trực tiếp tại xưởng sản xuất, hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2022.

Thứ ba, chuẩn hóa mạng lưới cơ sở đào tạo và phát triển đội ngũ giáo viên nghề. Đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị cho các trung tâm giáo dục nghề nghiệp tại 15 huyện, thị xã, thành phố. Đặt chỉ tiêu đến năm 2020, 100% giáo viên dạy nghề đạt chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và kỹ năng sư phạm, tăng cường thu hút kỹ sư, nghệ nhân tay nghề cao từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy thực hành.

Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm định chất lượng và giám sát sau đào tạo. Thiết lập hệ thống giám sát định kỳ 6 tháng và 1 năm đối với thu nhập của lao động sau học nghề. Gắn trách nhiệm người đứng đầu Ủy ban nhân dân cấp huyện với kết quả giải quyết việc làm và tỷ lệ giảm nghèo bền vững của địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động và giáo dục nghề nghiệp: Cung cấp khung phương pháp luận và số liệu thực chứng phục vụ xây dựng kế hoạch đào tạo nghề, quy hoạch mạng lưới trường lớp và ban hành chính sách hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu lao động tại địa phương.
  2. Ban giám hiệu và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Tham khảo định hướng phát triển chương trình đào tạo theo mô hình liên kết ba bên, chuẩn hóa phương pháp "cầm tay chỉ việc" và thiết kế mô hình đào tạo lưu động phù hợp với lao động nông thôn.
  3. Doanh nghiệp, hợp tác xã và các hiệp hội ngành nghề: Nắm bắt cơ chế chính sách ưu đãi của Nhà nước để chủ động liên kết đặt hàng đào tạo nhân lực đúng kỹ năng, tối ưu hóa chi phí tuyển dụng và đào tạo lại.
  4. Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công và Chính sách công: Sử dụng làm tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp nghiên cứu thực chứng, cách thức xử lý dữ liệu thống kê và cấu trúc một đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công.

Câu hỏi thường gặp

Đề án 1956 đã mang lại những kết quả nổi bật nào tại tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2012 - 2016? Đề án đã đào tạo và cấp chứng chỉ nghề cho 55.034 lao động nông thôn, giải quyết việc làm cho 46.230 người (đạt tỷ lệ 84%). Chương trình góp phần quan trọng nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh từ 27,6% lên 43%, đồng thời hình thành nhiều mô hình sinh kế hiệu quả cao với thu nhập tăng 1,5 đến 2 lần.

Đâu là nút thắt lớn nhất trong quản lý nhà nước về đào tạo nghề nông thôn hiện nay? Nút thắt lớn nhất là cơ cấu đào tạo mất cân đối và thiếu gắn kết với doanh nghiệp. Hơn 80% học viên chỉ học nghề dưới 3 tháng, tỷ lệ lao động được doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp chỉ đạt 7,74%, trong khi phần lớn lao động (87,27%) vẫn phải tự xoay xở tìm kiếm việc làm tại chỗ.

Mô hình liên kết 3 nhà mang lại lợi ích cụ thể gì cho công tác dạy nghề? Mô hình kết hợp Nhà nước (tài trợ kinh phí, ban hành cơ chế), Nhà trường (cung cấp kiến thức chuẩn hóa) và Doanh nghiệp (cung cấp thiết bị thực hành và bảo đảm việc làm đầu ra). Mô hình này giúp loại bỏ tình trạng đào tạo theo chỉ tiêu hình thức, bảo đảm người học có việc làm ngay sau tốt nghiệp.

Lao động nông thôn tỉnh Kiên Giang sau khi học nghề có thu nhập trung bình bao nhiêu? Lao động sau khi tham gia các mô hình phi nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt thu nhập bình quân từ 1,8 đến 2,5 triệu đồng/tháng. Đối với các mô hình nuôi trồng chuyên canh như nuôi cá lồng bè tại Kiên Lương hay Kiên Hải, thu nhập của người dân có thể đạt từ 23 đến 25 triệu đồng/bè/vụ.

Chính sách ưu tiên trong đào tạo nghề nông thôn hướng tới những nhóm đối tượng nào? Chính sách tập trung ưu tiên cho người có công với cách mạng, hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số (chiếm 12,49% dân số tỉnh), người khuyết tật, ngư dân và các hộ nông dân bị thu hồi đất phục vụ phát triển các khu công nghiệp, đô thị.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Phân tích chi tiết thực trạng đào tạo 55.034 lao động tại Kiên Giang giai đoạn 2012 - 2016, chỉ rõ tỷ lệ giải quyết việc làm 84% cùng những bất cập về cơ cấu trình độ.
  • Xác định nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế trong công tác khảo sát nhu cầu, đầu tư cơ sở vật chất và liên kết thị trường lao động.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, tài chính, nhân lực và kiểm tra giám sát có tính khả thi cao cho giai đoạn 2017 - 2025.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn vững chắc cho các nhà nghiên cứu, cán bộ hoạch định chính sách công và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Để tối ưu hóa hiệu quả thực thi chính sách, các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần đẩy mạnh hợp tác triển khai thí điểm các giải pháp đào tạo theo đơn đặt hàng, góp phần xây dựng nông thôn mới bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long.