CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÍ LUẬN VÈ THÔNG ĐIỆP VÀ THÔNG ĐIỆP VÈ VẤN ĐÈ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CÔNG NHÂN TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG 1. Một số khái niệm liên quan 1. Thông điệp Thông điệp là một hệ thống các kí hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể. Hệ thống các kí hiệu này đuợc quy uớc giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khác kí hiệu này phải đuợc giải mã bởi đầu nhận.
Hệ thống các kí hiệu ấy có thể là do lời nói (tiếng động và âm nhạc), chữ viết, đường nét, màu sắc, cử chỉ và thái độ, hành động. Theo Từ điên Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên), "‘Thông điệp” được định nghĩa là: 1: Công vãn ngoại giao quan trọng do nước này gửi cho một hay nhiều nước khác; 2: Báo cáo do tông thống gửi cho quốc hội đê trình bày tình hình và chính sách; 3: Bức thư công khai gửi cho mọi người hoặc một nhóm người nhất định (thường dùng với nghĩa bóng) [44, tr. Còn theo tác giả Nguyễn Lân trong giáo trình Phong cách học Tiếng Việt lại định nghĩa: “Thông điệp là một văn thư quan trọng của một chính phủ này gửi cho một chính phủ khác vì một vấn đề mà cả hai bên cần trao đôi ý kiến, thông điệp cũng chỉnh là thông tin muốn chuyên tải từ một hành động, một sự kiện cụ thế muốn gửi đến các đối tượng có liên quan. Thông điệp cũng là ỷ tưởng của một cá nhân (tổng thống) hay tổ chức tượng trưng” [31, tr.
Trong Báo cáo tống kết hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (năm 2005), các nhà truyền thông giáo dục sức khỏe cho rằng: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đôi từ người truyền đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, hiểu biết, ỷ kiến, đòi hỏi, 10 kỉnh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật được mã hóa theo một kí hiệu nào đó. Hệ thống kỉ hiệu này phải được người truyền lẫn người nhận cùng chấp nhận và cùng có một cách hiểu ” [54, tr. Những khái niệm trên của tác giả mới chỉ tiêp cận dưới góc độ ngôn ngữ học, chính trị học hoặc những chuyên ngành khác chưa thật sát đúng với lý luận báo chí học.
Theo tác giả, Thông điệp là nội dung cơ bản về một vấn đề nào đó được trình bày trong một hình thức ngắn gọn, súc tích, mà người truyền muốn chuyển đến người nhận nhằm thu hút sự quan tâm, ủng hộ và hành động của họ để đạt được mục tiêu mong muốn của những người, cơ quan, tổ chức thiết kế thông điệp. Thông điệp được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu tình hình thức tế - thiết kế sản xuất - thử nghiệm và phát hành rộng rãi trong xã hội bằng mọi phương tiện để đạt được mục đích mong muốn của các nhà thiết kế đối với quảng đại quần chúng. Thông điệp phải đáp ứng nhu cầu của người nhận. Đây là yêu cầu quan trọng đối với sự thành công của một thông điệp.
Và về phía mình, người nhận sẽ có đáp ứng như nguồn phát mong muốn nếu nguồn phát đảm bảo được rằng, người nhận được lĩnh hội đúng thông tin nguồn phát muốn truyền. Quá trình xây dựng thông điệp bao gồm 2 giai đoạn khác nhau nhưng bổ sung cho nhau. Giai đoạn thức nhất đòi hỏi nguồn phát phải xác định đúng cái muốn truyền đạt để tạo ra đáp ứng thích hợp nơi người nhận. Đây là ý tường thông điệp chủ định.
Trong giai đoạn thứ hai cần phải xác định hình thức tốt nhất để truyền đạt thông điệp chủ định. Hinh thức này được gọi là thông điệp mã hóa. Quyền lợi của công nhân 1. Công nhân, Giai cấp công 11 nhân Giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa hay còn được gọi là giai cấp vô sản.
Trong tác phẩm Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản, Ph. Ăngghen định nghĩa: “Giai cấp vô sản là một giai cấp hoàn toàn chỉ kiếm sống hằng việc bán laa động của mình, chứ không phải sông bằng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là một giai Cấp mà hạnh phúc và đau khố, sống và chết toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyên biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn nổi ” [32, tr. Tuy vậy, không chính xác khi gọi giai cấp vô sản là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp vô sản có trình độ lao động công nghiệp cao, là đứa con của nền đại công nghiệp hiện đại.
“Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy - đó là sứ mệnh của giai cấp vô sản hiện đại” [32, tr. Trong giai đoạn hiện nay, giai cấp công nhân đã có những biến đổi mới: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ôn định, hình thành và phát triên cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có hoặc cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là người cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu snar xuất và cùng nhau họp tác lao động vì lợi ích chung của xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ” [4, tr. Tại Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, tất cả những người không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, bất kỳ họ lao động trong công nghệ hay trong nông nghiệp, bất kỳ họ làm nghề gì, cũng đều thuộc giai cấp công nhân.
Chủ chốt của 12 giai cấp ấy, là những công nhân tại các xí nghiệp như nhà máy, hầm mỏ, xe lửa. Những công nhân thủ công nghệ, những người làm thuê ở các cửa hàng, những cố nông. cũng thuộc giai cấp công nhân. Nhưng chỉ công nhân công nghệ là hoàn toàn đại biếu cho đặc thù của giai cấp công nhân [33, tr.
Cũng theo Hồ Chí Minh, đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là kiên quyết, triệt để tập thể, có tổ chức, kỷ luật. Công nhân là giai cấp tiên tiến nhất trong sức sản xuất, có trách nhiệm đánh đố chế độ tư bản và đế quốc, xây dựng một xã hội mới. Vì những lẽ đó, giai cấp công nhân có thế lĩnh hội và thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất: chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và làm gương cho các tầng lớp khác.
Do đó, về mawtjchinhs trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo [33, tr. Nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ là tất yếu khách quan. Đó là những vấn đề đã được các Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và X cùa Đảng khẳng định.
Từ thực tiễn của đất nước và trên cơ sở định nghĩa về giai cấp công nhân hiện đại như đã nêu ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay như sau: Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, đang phát trỉên cùng với sự phát trỉên của nền công nghiệp hiện đại, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công, hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tỉnh chất công nghiệp, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất; là giai cấp có xứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tỉên tiến, lực lượng xã hội nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Như vậy, xét về tính chất lao động, người ta thường gọi lao động mang tính chất công nghiệp là công nhân. Xét ở địa vị xã hội, người ta gọi những 13 người lao động công nghiệp là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân bao gồm cả những người lao động trí óc và lao động chân tay.
Lao động trí óc là những người được đào tạo có trình độ cao đẳng, đại học trở nên, thường giữ các cương vị quản lí, điều khiển trong các nhà máy, xí nghiệp, thường được gọi là công nhân “áo trắng” hay công nhân “cổ cồn”. Những người lao động chân tay trong các dây chuyền sản xuất, trực tiếp làm ra các sản phẩm công nghiệp, thường được gọi là công nhân “áo xanh” hay công nhân lao động. Quyền lợi của công nhân Quyền lợi của công nhân, một mặt, là một quyền cơ bản của nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; mặt khác, lại là quyền mang tính hạt nhân đối với quyền con người nói chung. Điều 23 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người: “Mọi người có quyền làm việc".
Điều 6 Công ước quốc tế và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa: “Các quốc gia thành viên thừa nhận quyên làm việc, trong đó bao gôm quyên của tât cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc mà họ tự do lựa chọn hoặc chấp thuận”. Điều 7 Công ước đòi hỏi các quốc gia phải “công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi ”. Hiến chương xã hội Châu Âu xem quyền của người công nhân lao động là một trong những quyền cơ bản trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, cụ thể như: tự do lựa chọn việc làm, được thừa hưởng điều kiện lao động an toàn, được trả lương và tham gia bảo hiểm nhằm đảm bảo cho cuộc sống của họ và gia đình họ. Tổ chức Lao động quốc tế thông qua 181 công ước và 189 khuyến nghị chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề bình đẳng cơ hội việc làm và bình đắng đối xử trong lao động.