phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường khu công nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường khu công nghiệp và thực tiễn thi hành tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Chƣơng 3: Yêu cầu, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ môi trường khu công nghiệp 17 CHƢƠNG I LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm và đặc điểm của khu công nghiệp Khoản 11 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 định nghĩa: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”. Khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 định nghĩa “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”.
Giữa 2 định nghĩa này, định nghĩa tại Luật Đầu tư năm 2020 chỉ sửa đổi một từ là “thực hiện” dịch vụ cho sản xuất công nghiệp thành “cung ứng” dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Theo khái niệm này, một KCN được hiểu phải đáp ứng đồng thời 02 điều kiện là: i) Khu vực có ranh giới địa lý xác định; ii)Chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Với các điều kiện này, KCN có tính chất, đặc điểm khác so với các cơ sở sản xuất ngoài KCN, các khu kinh tế, làng nghề: + Về không gian: Là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và không có cư dân sinh sống. Các KCN đều được xác định ranh giới cụ thể thông qua quyết định thành lập và thực tế được ngăn cách với các khu vực khác bằng hệ thống hàng rào KCN, phân biệt với các vùng còn lại.Các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh được thực hiện bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng của KCN.
Khác với khu kinh tế, làng nghề, trong KCN các công trình phụ trợ không phục vụ mục đích sống của dân cư, kể cả những người làm việc trong KCN. 18 + Về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Lĩnh vực đầu tư trong KCN là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Trong KCN, không có các hoạt động sản xuất, dịch vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc hoạt động dịch vụ thương mại, trừ những hoạt động dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất người lao động như căng tin, ăn uống.
+ Về thành lập: KCN được thành lập theo quy định của pháp luật, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt. Để thành lập các KCN, Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xây dựng quy hoạch phát triển KCN, phải xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách phát triển KCN và hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật. + Về mục đích thành lập: KCN được thành lập nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho sản xuất công nghiệp, nhằm tách riêng khu vực sản xuất và khu vực sinh sống của nhân dân và từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đi đôi với BVMT, giảm thiểu những tác động của hoạt động kinh tế tới môi trường sống của người dân. Khái niệm và đặc điểm của bảo vệ môi trƣờng khu công nghiệp Luật BVMT 2014 không có định nghĩa về BVMT mà chỉ đưa ra định nghĩa về hoạt động BVMT.
Theo Khoản 3 Điều 3 Luật BVMT 2014, “Hoạt động BVMT là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”. Khái niệm này cũng được áp dụng cho mọi khu vực nào đó, trong đó có KCN. Theo khái niệm này, BVMT KCN là những hoạt động của các chủ thể có liên quan đến KCN, bao gồm cơ quan nhà nước, các tổ chức, nhà đầu tư, doanh nghiệp và cá nhân tiến hành nhằm mục đích cơ bản sau: Thứ nhất, giữ gìn cho môi trường KCN được trong lành, sạch đẹp. Ở mục đích này, các chủ thể có liên quan khi thực hiện những hành vi của mình 19 phải loại trừ hoặc hạn chế những thay đổi làm xấu đi tình trạng tự nhiên của môi trường.
Thứ hai, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường KCN Trong mục đích này, các chủ thể có liên quan phải áp dụng các biện pháp để hạn chế, loại trừ những hành vi có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và trong trường hợp hành vi gây ảnh hưởng xấu thì phải áp dụng các biện pháp nhằm loại trừ nguyên nhân gây ra những ảnh hưởng này. Vấn đề phải phòng ngừa những tác động tiêu cực của hoạt động của KCN đối với môi trường và sức khỏe người lao động trong các KCN là hết sức quan trọng đối với việc BVMT sống của người dân tại các khu vực xung quanh KCN, BVMT chung cho tất cả cộng đồng Thứ ba, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường KCN. Mục đích này hướng tới việc khắc phục hậu quả khi xảy ra tình trạng môi trường bị ô nhiễm, suy thoái hoặc sự cố môi trường trong hoạt động của KCN, có thể do những rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động. Phục hồi và cải thiện môi trường, hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường từ các hoạt động của các KCN là yêu cầu của BVMT nói chung, BVMT KCN nói riêng.
Vấn đề môi trường và BVMT KCN có những đặc điểm khác biệt so với hoạt động BVMT chung, BVMT của các doanh nghiệp hoạt động ngoài KCN, gồm những đặc điểm sau: Thứ nhất, có nhiều đối tượng thực hiện hoạt động BVMT tại KCN: Những nhóm chủ thể liên quan đến hoạt động BVMT, theo nguyên tắc được quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật BVMT 2014 “BVMT là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân” và như vậy bao gồm tất cả mọi chủ thể trong xã hội. Hoạt động BVMT KCN sẽ liên quan trực tiếp tới những chủ thể có trách nhiệm quản lý KCN, những chủ thể có hoạt động tại KCN và do đó bao gồm những chủ thể sau: cơ quan quản lý nhà nước về BVMT (cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường), Ban quản lý các KCN (là cơ quan quản lý nhà nước đối với các KCN), chủ đầu tư 20 kinh doanh hạ tầng KCN, chủ đầu tư vào KCN, doanh nghiệp hoạt động trong KCN, cộng đồng dân cư xung quanh KCN. Thứ hai, KCN là khu vực chuyên sản xuất, cung ứng dịch vụ công nghiệp trong một địa điểm tập trung là KCN nên vấn đề môi trường và hoạt động BVMT cũng có những đặc điểm khác biệt, cụ thể là: i) Nhiều doanh nghiệp trong KCN gần nhau, loại chất thải có thể giống nhau nên có thể thực hiện việc quản lý chất thải tập trung vào một đầu mối, từ đó có thể giảm chi phí vận chuyển chất thải và giảm xả thải chất thải ra môi trường; ii) Giảm các tác động đến môi trường từ việc tiết giảm vận tải, xây dựng và vận hành các hệ thống cung cấp điện, nước, viễn thông…; iii) Tác động đến môi trường khu dân cư sẽ giảm do các KCN được quy hoạch và lựa chọn địa điểm xa khu dân cư, xa các khu vực nhạy cảm về môi trường; iv) Hoạt động quản lý nhà nước về môi trường thuận tiện hơn do các doanh nghiệp tập trung vào một địa điểm. Tuy nhiên, các KCN cũng có thể là nguyên nhân gây ảnh hưởng, có thể là nghiêm trọng cho môi truờng tại nhiều khu vực nếu các biện pháp BVMT không được quan tâm một cách đúng mức.
Nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường của các KCN là do tại đây tập trung nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp và từ đó cũng tạo ra những nguy cơ tác động lớn đến môi trường và do đó cần xác định yêu cầu BVMT cao hơn các khu vực khác. QUAN NIỆM VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật bảo vệ môi trƣờng khu công nghiệp Giáo trình luật môi trường của trường Đại học Luật Hà nội năm 2018 định nghĩa5 “Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lí điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến 5 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật môi trường, NXB CAND, Hà Nội, 2018, trang 40 21 một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người”. Như vậy, có thể thấy, pháp luật BVMT KCN là một chế định cụ thể của Luật môi trường, là nhóm chế định điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động BVMT tại KCN.
Từ khái niệm Luật Môi trường, khái niệm BVMT có thể đưa ra định nghĩa pháp luật BVMT KCN như sau: “Pháp luật BVMTKCN là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm nguyên tắc pháp lý, các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh nhữn g mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động BVMT tại KCN, nhằm phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu tới môi trường KCN và môi trường xung quanh”6. Theo định nghĩa này, pháp luật BVMT KCN được hiểu là: Một là, pháp luật BVMT KCN là một bộ phận của pháp luật môi trường: Hoạt động của KCN có nguy cơ gây ra những tác động xấu tới môi trường và từ đó, mục đích của pháp luật BVMT KCN là loại trừ, hạn chế những tác động xấu tới môi trường. Do đó, nó cũng có cùng mục đích “bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người”, là mục đích của Luật Môi trường. Bên cạnh đó, các KCN chỉ là một trong những khu vực cấu thành nên môi trường, là đối tượng bảo vệ của pháp luật môi trường.